CAO NGỌC THẮNG - Nhà thơ viết phê bình văn học

Thứ tư - 11/02/2026 08:29
CAO NGỌC THẮNG - Nhà thơ viết phê bình văn học

P. GS, TS Hồ Thế Hà

          thế giới và Việt Nam, tuy không nhiều, nhưng thời nào cũng có những nhà thơ và nhà văn viết phê bình văn học, mà lại viết hay, viết sắc sảo. Thời hiện đại ở Việt Nam, một số nhà thơ có nhu cầu thưởng thức thi ca và thực hành viết phê bình thơ có hiệu quả. Thế hệ trước, có Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…, thế hệ sau có Mã Giang Lân, Thanh Thảo, Lê Thành Nghị, Cao Ngọc Thắng, Lê Quang Sinh… Họ vừa sáng tác vừa tham gia đời sống văn chương bằng những trang văn mang tính khoa học - nghệ thuật và có nhiều phát hiện mới lạ về văn chương đồng hành thời họ sống.

Trong bài viết ngắn này, tôi muốn đề cập đến Cao Ngọc Thắng - một nhà thơ thời hiện đại thường xuyên tham gia viết phê bình văn học, nhất là phê bình thơ rất đặc sắc, có cá tính với tư cách là người tiếp nhận đồng sáng tạo. Tác phẩm phê bình - chân dung văn học Miền ký ức (Nxb Hội Nhà văn, 2023) của anh là minh chứng cho một kiểu viết phê bình thơ nghiêm túc, có cảm quan nghiên cứu với quan niệm riêng để chỉ ra những đóng góp của các tác giả vào thành tựu của nền văn học thời hiện tại ở nước ta.

Tập Miền ký ức đề cập nhiều lĩnh vực: thơ, văn xuôi, hội họa và lý luận nghiên cứu văn học, nhưng tập trung chủ yếu là phê bình thơ của các nhà thơ hiện đại Việt Nam. Trong giới hạn cho phép, chúng tôi cũng chỉ tìm hiểu những bài viết mới mẻ của anh về các nhà thơ tiêu biểu, có phong cách riêng và thực sự đóng góp vào sự vận động của tiến trình thơ Việt thời hiện đại.

Trước khi đi vào nội dung các bài viết, chúng tôi xin chỉ ra cách chiếm lĩnh tác phẩm và phê bình tác phẩm mà Cao Ngọc Thắng đặt ra như là thao tácphương pháp làm việc của anh. Anh quan niệm, muốn hiểu sâu, hiểu đúng tác phẩm, trước tiên phải tìm hiểu về con người tác giả và hiện thực đời sống, môi sinh đã giúp họ hình thành nên tác phẩm, tức là phải hiểu quá trình sáng tạo như: cơ sở văn hóa, lịch sử - xã hội cùng với những quan hệ bản chấtquan hệ tương tác giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ trong quá trình sáng tác. Từ đó, tiếp tục đi sâu, lần tìm ở bên sau, bên sâu của ngôn từ, hình tượng mới có thể chỉ ra giá trị thẩm mỹ và giá trị tư tưởng của từng tác phẩm một cách bất ngờ, mới mẻ.

          Nếu nói Phê bình văn học cùng với Lịch sử văn học, Lý luận văn học và Phương pháp luận nghiên cứu văn học là 4 bộ môn chính hợp thành Khoa nghiên cứu văn học, thì Phê bình văn học là bộ môn có quan hệ trực tiếp nhất và đồng hành với quá trình sáng tạo văn học và tiến trình văn học thời hiện tại đang tiếp diễn để phẩm bình, đánh giá tác phẩm văn học. Nó có tác dụng chỉ ra cái hay, cái đẹp của văn chương và tác động đến sự vận động và phát triển của văn học cũng như góp phần hình thành thị hiếu thẩm mỹ cho độc giả. Phê bình văn học luôn tìm kiếm và chỉ ra cái Mới, cái Khác làm nên giá trị của tác giả và tác phẩm theo thời gian. Vì vậy mà Bélinski gọi phê bình văn học là “mỹ học vận động”, là “sự tự nhận thức của thời đại” và là “ý thức triết học” của văn học.
 

        Untitled 1  Những bài phê bình thơ trong Miền ký ức của Cao Ngọc Thắng đã đồng hành và suy ngẫm về thơ với cảm quan và phương pháp tiếp cận bản chất, dựa trên chất liệu ngôn từ và hình tượng văn bản thơ cụ thể đã làm cho tính khách quan, khoa học hiện lên, thỏa mãn nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của người đọc. Một trong những nét chủ đạo dễ nhận ra trong phương pháp phê bình thơ của Cao Ngọc Thắng như đã nêu trên, đó là anh luôn tìm hiểu cặn kẽ từng yếu tố tham gia cấu thành chỉnh thể tác phẩm thơ, mà trước hết là từ yếu thố hình thức - hình thức mang tính quan niệm, sau đó là những yếu tố địa - văn hóa cùng cái nhìn nghệ thuật của mỗi tác giả để lần tìm giá trị chính yếu của tác phẩm. Đây là cách nghiên cứu khá mới mẻ mà Thi pháp học hiện đại yêu cầu và nhiều nhà phê bình vận dụng có hiệu quả bất ngờ. Đó là cách thao tác khoa học thống nhất của Cao Ngọc Thắng mà chúng tôi muốn minh chứng qua các nghiên cứu trường hợp (case studies) tiêu biểu để thấy hiệu quả nghiên cứu của anh.

          Các bài viết về Hồ Chí Minh qua bài thơ Nửa đêm, về sự cách tân thơ của Nguyễn Xuân Sanh trong Phong trào Thơ mới, về nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận hay bài viết về chương Đất nước trong Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, về chất thơ riêng trong nhạc của Văn Cao, tính độc đáo trong thơ Việt Phương, Bằng Việt, Hữu Thỉnh và nhiều tác giả khác đều thống nhất kiểu thao tác khoa học nói trên nên đem lại kết quả mới, có khi là kết quả bổ sung khá thuyết phục.

Trong bài viết “Từ bài thơ Nửa đêm của Hồ Chí Minh”, dù được nhiều người phân tích sâu về bài thơ này, nhưng đến Cao Ngọc Thắng, cũng bằng thao tác làm việc như đã tìm hiểu trên, anh đã phân tích hoàn cảnh xuất xứ, văn tự của bài thơ, chỉ rõ điều kiện và tâm thế khi sáng tác của nhà thơ Hồ Chí Minh để chỉ ra nội dung và thi pháp, tư tưởng chủ đạo của bài thơ và hiệu quả tiếp nhận bài thơ này trong liên hệ với bối cảnh xã hội, cả lịch đại và đồng đại để rút ra nhận xét về vấn đề thiện - ác của nhân loại nói chung: “Bài thơ Nửa đêm của Hồ Chí Minh ra đời trong bối cảnh như thế không hề ngẫu nhiên. Bởi, Người đã từng chứng kiến “cái ác” hiện diện ngay trên đất nước mình và ở khắp nơi trên các lục địa trong thời đại thế giới bị chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, ngày càng dấn sâu vào sự bóc lột thặng dư người lao động một cách tinh vi… Đó là gốc gác chính yếu dẫn đến lối sống vị vật chất, làm nô lệ cho đời sống tiêu dùng, mà hệ quả là “quên” mất mục đích hướng thiện, tức là từ bỏ con đường giác ngộ như giáo lý Phật giáo khuyên răn. Hồ Chí Minh luôn trăn trở trước thực trạng “cái ác” ngày càng xâm lấn, càng tha hóa xã hội. Người góp tiếng nói cảnh tỉnh về nguy cơ con người cá thể ngày càng bị tách khỏi con người xã hội và tách khỏi môi trường thiên nhiên, đạo đức lâm vào đổ vỡ” (tr.39-40) [Từ đây trở đi, các minh chứng đều rút từ Miền ký ức của Cao Ngọc Thắng, Nxb Hội nhà văn, 2023 và chỉ ghi số trang]. Vì vậy mà hiệu quả giáo dục của bài thơ đã vượt qua thời gian quá khứ cụ thể để đồng hành với con người hôm nay, mang ý nghĩa nhận thức và giáo dục rất cụ thể và tích cực: “Bài thơ Nửa đêm của Hồ Chí Minh khẳng định vai trò tiên quyết của giáo dục trong tiến trình loại bỏ cái ác, tôn vinh cái thiện, hướng tới một xã hội đạo đức - xã hội mà trong đó mỗi người dân đều có quyền được hưởng các điều kiện và cơ hội cho phát triển toàn diện. Giá trị đích thực của bài thơ Nửa đêm ánh lên vẻ đẹp tâm hồn, tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh về giáo dục hướng thiện, sau này được Người phát biểu, củng cố cái chân lý thường hằng: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” mang hơi thở của thời đại Không có gì quý hơn độc lập tự do!” (tr.43). Đây là nhận định khá bao quát, được tác giả bài viết liên hệ ở phạm vi rộng và phạm vi hẹp để thấy giá trị nhận thức sâu sắc của bài thơ.

          Trường hợp Văn Cao, khi nghiên cứu về sự cộng hưởng nghệ thuật giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ âm nhạc để làm nên giá trị ca khúc Mùa xuân đầu tiên, Cao Ngọc Thắng đã lẩy được hai chữ “bình thường” trong bài hát - xem đó như là nhãn tự để tác giả Quốc ca Việt Nam triển khai ca khúc này một cách độc đáo, ám ảnh: “Là ca từ của một ca khúc, nhưng toàn bộ lời ca trong Mùa Xuân Đầu Tiên, trước hết và rốt cuộc, mang âm hưởng của một bài thơ trọn vẹn, từ cấu trúc, nhịp điệu, ngôn ngữ đến tiến trình phát triển của ý và tứ thơ” (tr.71). Và anh cho rằng bài thơ trong trường hợp này đã trở thành thơ-ca-từ được Văn Cao tổ chức theo quy luật sáng tạo ca từ (phân bố lượt chữ), thanh điệu, âm điệu, sự láy từ vựng và cú pháp… mới lạ của Văn Cao để tạo ra nhịp điệu uyển chuyển “đã tạo nên những đợt sóng dồn dập, tác động vào các giác quan người đọc sự da diết, trầm hùng” (tr.73). Tác giả bài viết tiếp tục chỉ ra sự bất ngờ trong tầm đón đợi của người đọc: “Khi Văn Cao viết thơ-ca-từ cho ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên, thì ông không viết cái “bình thường” của bình thường, mà là cái “bình thường” của rất-đỗi-bình-thường, vì vậy cái “bình thường” ấy không còn bình thường nữa. Không phải sự hiện diện của hai chữ “bình thường”, mà ở những chữ rất bình thường khác. Toàn bộ ý thơ được biểu hiện ở những chữ bình thường với những hình ảnh rất đỗi quen thuộc: mùa xuân - cánh én, khói bay - dòng sông - tiếng gà gáy, người mẹ - đàn con, nước mắt - mơ ước - niềm vui, quê hương - cuộc đời, yêu thương - yên ấm… Tất cả, quyện vào nhau, thành một bức tranh thiên nhiên hài hòa với tâm trạng con người, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong với một biên độ sắc màu, ánh sáng đa dạng, lung linh. Trên nền bức tranh-thơ ấy, là những điểm nhấn, những khắc họa tinh tế bởi các chữ hoặc cặp chữ, tạo nên chiều sâu và cả chiều kích cho sự liên tưởng về không gian và thời gian trong sự dịch chuyển có tính quy luật của tuần hoàn” (tr.73). Còn nhiều đoạn phân tích hay và mới nữa về thơ-ca-từ của Văn Cao được Cao Ngọc Thắng chỉ ra một cách mới mẻ, thuyết phục, chứng tỏ nhà phê bình đã hiểu rất sâu về thi ca và âm nhạc, làm cho người đọc thấy tận cùng cái đẹp của nghệ thuật liên văn bản giữa ca từ và giai điệu âm thanh: “Đến mùa xuân Canh Tý - 2020, ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên của Văn Cao đã đồng hành cùng 45 mùa xuân đất nước. Bên cạnh âm nhạc, lời thơ-ca-từ của Mùa Xuân Đầu Tiên luôn ánh lên tư tưởng nghệ thuật ở một nghệ sỹ thiên tài, làm dầy thêm và nặng hơn, từ đó tăng lên sức “vượt gộp” (chữ của PGS Phan Ngọc) cho di sản Thơ và Nhạc của tác giả Quốc Ca sống mãi với dân tộc Việt Nam” (tr.77). Nhà phê bình ở đây đã thành người đồng sáng tạo với nhạc sĩ Văn Cao để giúp người đọc cũng thành người tiếp nhận đồng sáng tạo như mình.

Nghiên cứu về cuộc sống và hành trình nghệ thuật của một nhà thơ là để cuối cùng chỉ ra chất thơ và phong cách tác giả từ chính sự vận động, phát triển thi pháp của chính họ trong quan hệ tương tác với sự vận động và phát triển chung của cả nền thơ, chỉ ra sự đóng góp thành tựu của họ cho một thời kỳ, một giai đoạn thơ. Muốn vậy, người nghiên cứu phải nắm vững đối tượng, bao quát vấn đề từ riêng đến chung, từ cụ thể đến khái quát, từ bộ phận đến toàn thể, từ thực tiễn đến tiềm năng… để rút ra những đánh giá, kết luận chính xác, thuyết phục. Qui chiếu những yêu cầu trên, quả là Cao Ngọc Thắng đã thành công trong việc nghiên cứu chân dung thơ và thế giới nghệ thuật thơ của từng nhà thơ một cách khách quan, khoa học như thế. Anh luôn nghiên cứu trường hợp từng tác giả trong sự đối sánh với cả phong trào thơ, cả nền thơ để thấy cái riêng của họ góp phần làm phong phú cho cả nền thơ. Và ngược lại, nêu cái chung là để thấy sự tương tác, biểu hiện của chúng qua từng tác giả cụ thể cũng là một quy luật tương tác có điều kiện.

Theo đó, với trường hợp Nguyễn Xuân Sanh trong Phong trào Thơ mới 1930-1945, Cao Ngọc Thắng đã luận giải và minh chứng về vai trò tiên phong cách tân thơ của nhà thơ đặc biệt này ở nhiều yếu tố và góc nhìn. Xuất phát từ vấn đề cốt lõi là điều kiện và hoàn cảnh ra đời của Xuân Thu nhã tập (1942) với những quan niệm mới mẻ và hệ thống, kết tinh thành Tuyên ngôn Thơ hiện đại, tân kỳ đã giúp cho những chủ thể Thơ mới của Xuân Thu, trong đó, có vai trò tiên phong của Nguyễn Xuân Sanh, đã thật sự bước vào phạm trù thơ hiện đại thế giới, đặc biệt là thơ Pháp đã đi trước chúng ta gần 100 năm. Vì vậy, “Tuyên ngôn Thơ của nhóm Xuân Thu là hồi chuông gióng lên sự cần thiết phải thực hiện rốt ráo cuộc cách tân thơ, nhằm thoát khỏi chiều hướng thoái trào, lâm vào bế tắc ngay trong lòng Thơ Mới. Đó là đóng góp hết sức quan trọng. Bởi, Tuyên ngôn Thơ tiếp tục khẳng định: cách tân là nhu cầu tự thân của nền thơ Việt - một nền thơ có truyền thống, có bản sắc và có năng lực tiếp thu tinh hoa của các nền thơ khác, cả trong quá khứ ở phương Đông và đương thời ở phương Tây, để không ngừng đổi mới và hiện đại thơ, trong đó tính dân tộc là bất biến, mọi cái tiếp thu được đều nhằm tới đích làm đẹp thơ Việt, cả về nội dung và hình thức biểu cảm, cả về tư duy và ngôn ngữ thơ. Một đóng góp khác của Tuyên ngôn Thơ mang tính nguyên tắc là: công việc sáng tạo thơ phải xuất phát từ cuộc sống và phục vụ cuộc sống - tức là phải xây dựng được mối quan hệ khăng khít giữa thơ và quần chúng bạn đọc. Tiếc rằng, hoàn cảnh lịch sử không cho phép nhóm Xuân Thu tiếp tục triển khai những ý niệm đã thể hiện trong Tuyên ngôn Thơ. Song, âm hưởng của Xuân Thu nhã tập vẫn luôn âm ỉ và ảnh hưởng nhất định trong tiến trình chuyển dịch tích cực của thơ Việt qua từng giai đoạn cụ thể, qua những cuộc thảo luận về thơ không vần, thơ văn xuôi, nhất là trong nỗ lực âm thầm cách tân của các thế hệ nhà thơ nối tiếp nhau” (tr.86). Sau khi tiếp tục phân tích cụ thể về sự xuất hiện cái tôi cá nhân cá thể (individu), sự hình thành cấu tứ, lựa chọn chữ nghĩa, âm tiết, vần nhịp… trong ba bài Buồn xưa, Bình tàn thu Hồn ngàn xưa, Cao Ngọc Thắng đã chỉ ra sự tiên phong cách tân mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, đồng thời chỉ ra những hạn chế không thực hiện được sự cách tân như mong muốn của ông vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau: “Lựa chọn của Nguyễn Xuân Sanh xuất phát từ tinh thần Tuyên ngôn Thơ của nhóm Xuân Thu mà ông là một đại diện, có tính triết học làm nền tảng, do đó thơ ông có dấu hiệu hình thành phong cách tác giả. Tuy nhiên, phong cách ấy không có điều kiện củng cố và duy trì để tiến tới hoàn thiện tính độc lập, tính cá thể. Khách quan mà nói, trong hoàn cảnh của 78 năm trước đây, bản thân Nguyễn Xuân Sanh khó lòng kiên trì đi tiếp con đường mà thuở ban đầu ông lựa chọn; ngay cả sau này khi hoàn cảnh đã đổi khác, hồn thơ cách tân của ông ngày ấy cũng không gượng dậy nổi” (tr.90). Từ đó, Cao Ngọc Thắng liên hệ với thơ Việt hiện nay để chỉ ra những hạn chế so với thời đại Nguyễn Xuân Sanh để thấy gần một thế kỷ trước đây nhóm Xuân Thu và Nguyễn Xuân Sanh đã nhạy bén, tiến bộ và dũng cảm đi trước thời đại như thế nào: “Hiện nay ở Việt Nam hình như thiếu vắng những nhóm thơ có khuynh hướng, có ý nghĩa trào lưu với định hướng cách tân thơ như nhóm Xuân Thu trước đây. Do đó thiếu động lực thúc đẩy việc cách tân thơ nhằm nâng cao chất lượng thơ và khẳng định bản sắc thơ Việt. Nếu đúng như vậy thì cần khuyến khích, tạo điều kiện và hỗ trợ cho các nhóm thơ xuất hiện, đặc biệt là người trẻ, mà nòng cốt là cá nhân các nhà thơ có sức hút, có khả năng tổ chức và dẫn dắt nhóm trên nền tảng học thuật đích thực” (tr.91-92). Nhận định khách quan và khoa học cùng những đề xuất như trên phải nói rằng Cao Ngọc Thắng đã căn cứ vào nhiều yếu tố cá nhân và thời đại để dẫn đến sự khẳng định thành tựu của Xuân Thu và chỉ ra hướng khắc phục những hạn chế để tiến lên của thơ Việt hiện nay.

          Viết về Huy Cận trong bài “Lý lẽ trái tim”, nối tiếp những nhà phê bình đi trước, nhưng anh chỉ ra được cạnh khía khác về nỗi buồn trong Lửa thiêng của Huy Cận, anh cho rằng không nên nhìn nỗi buồn đơn thuần trên bề mặt câu chữ mà sâu xa chính là cách nhìn vũ trụ, chứ không chỉ nỗi buồn vũ trụ, vì “Bản thân vũ trụ không buồn, song nó chứa đựng lớp lớp nỗi buồn nhân gian” (tr.79). Và nỗi buồn đó không riêng gì ở Lửa thiêng, rộng ra ở trong toàn bộ thế giới thơ Huy Cận: “Huy Cận, trong Lửa thiêng, đặc biệt là bài Tràng giang, đã không lý giải mà cảm thụ nỗi buồn của cõi người ẩn vào vũ trụ. Do đó, nhà thơ đã khám phá nhiều cung bậc của nỗi buồn. Nỗi buồn của con người “điệp điệp” trong những lớp sóng của nhiều dòng sông cộng hưởng (chứ không phải chỉ một dòng sông dài với tên gọi tràng giang), trong “đìu hiu” ngọn gió, khi “nắng xuống” lúc “trời lên sâu chót vót”, để rồi “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, đọng lại “lòng quê dợn dợn vời con nước”. Ông viết những cụm từ đó với tâm tình yêu thương và lòng cảm thông thực sự. Suốt cả bài thơ là mạch biểu cảm tự đáy lòng, không bấu víu chút nào vào hình ảnh khổ đau của con người hiện hữu, mà vẫn cho thấy nỗi thống khổ của nhân loại trải dài từ thuở có mặt trên trái đất này. Tràng giang sau/dưới bài thơ không còn là những dòng sông nữa, đã biến thành nỗi buồn vạn kiếp - nỗi buồn phát sinh từ những đau khổ do quy luật sinh tồn, không chỉ ở thế giới loài người, đem lại. Nỗi buồn ấy trở thành động lực phát triển cuộc sống và cũng là duyên cớ cho nghệ thuật ra đời, cứu rỗi con người. Buồn là trạng thái chung của thơ, khiến người thơ luôn tự dằn vặt, mà câu hỏi: ta là ai? luôn thường trực trong tâm trí nghệ sỹ, thi sỹ, nhưng chưa bao giờ nhận được câu trả lời đích thực” (tr.81). Sau khi phân tích nhiều cạnh khía khác của con người cá nhân Huy Cận trong nhiều mối quan hệ xã hội/ môi sinh, Cao Ngọc Thắng đã đút rút vấn đề mới mẻ: “Là một trong những người tiên phong của Phong trào Thơ Mới, Huy Cận có 70 năm sự nghiệp thơ. Thơ ông để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng người yêu thơ. Cái đẹp ấy nổi bật ở tính nhất quán trong sự cảm thụ thế giới đa chiều có tính vũ trụ, trong tình yêu thương chân thực đồng loại và cuộc sống, cho dù thời thế có biến chuyển. Và, cho dù tâm thế của ông đôi lúc đổi thay, thì thơ ông vẫn vẹn nguyên nỗi cảm thông sâu sắc của một trái tim nhạy cảm: “Thiên đàng cao quá không nhìn rõ,/ Địa ngục phơi bày thật thảm thương” (Cảnh địa ngục). Thơ Huy Cận đúng là buồn. Nhưng nỗi buồn đó đã được nói ra bằng thơ. Nỗi buồn đó mang đặc trưng của thơ. Nỗi buồn đó được chiết xuất từ sự trực cảm vũ trụ… Huy Cận là thi nhân có trái tim mang lý lẽ của riêng mình” (tr.83-84). Điểm bất ngờ trong phê bình của Cao Ngọc Thắng chính là ở sự phát hiện mới như thế, chứng tỏ được tài năng của người thưởng thức mà bằng cảm quan nghiên cứu sắc sảo, anh đã tự tạo ra cho mình qua những trang viết giàu luận lý.

Trong bài viết “Thơ mãi là Nắng mới tinh khôi”, khi nhận xét về chương Đất nước” trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Cao Ngọc Thắng cho rằng đây có thể xem là một bài thơ độc lập trong tiếp nhận của người đọc với lý lẽ khá thuyết phục: “Việc tiếp nhận chương Đất Nước như một bài thơ độc lập, dưới hình thức thơ tự do, hiển nhiên cho thấy sự thay đổi lớn lao trong cộng đồng người đọc Việt Nam ngày nay, ở chỗ bài thơ đã khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, lòng khát khao hướng tới hòa bình, ấm no, hạnh phúc, không chỉ ở thời điểm đó mà còn lâu hơn sau đó, kể cả lúc này, bằng sự chân thật, bằng sự hiểu biết có chắt chiu, chọn lọc, với sức truyền cảm của nghệ thuật mà nhà thơ tự ý thức và phát biểu dưới dạng ngôn ngữ thơ” (tr.94-95). Nhưng sau đó, đặt chương này trong cấu trúc tổng thể các chương của trường ca, anh lập luận một cách logic từng nội dung, chi tiết, ngôn ngữ và hình tượng trong các chương, đặc biệt, đến chương 5, anh liên hệ phân tích khái quát về hai điểm nhấn đầy bất ngờ: 1/ Đó là Sông Hồng và châu thổ sinh ra nó là đồng bằng Bắc bộ, 2/ là hình tượng bác Hồ, vị lãnh tụ tối cao của cách mạng Việt Nam và cho rằng: “Hai điểm nhấn này - sông Hồng và hình tượng Bác Hồ - là dấu khắc đậm đà, trước hết từ tình cảm của bản thân tác giả truyền sang người đọc. Nguyễn Khoa Điềm sinh ra ở Huế nhưng có nguồn gốc bản quán tại mảnh đất Xứ Đông (Hải Dương-Hải Phòng trước đây còn gọi là tỉnh Đông, phía đông Thăng Long, bên bờ sông Hồng, nhìn sang Xứ Đoài là Hà Đông-Sơn Tây, phía tây và nay thuộc Hà Nội), trước kia nằm giáp biển, một vùng địa linh nhân kiệt nổi tiếng từ xa xưa, nên ông còn tên gọi khác là Nguyễn Hải Dương. Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều (tức Nguyễn Khoa Văn, nổi tiếng trong cuộc luận chiến mà ông đứng về phía quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”), thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng (1690-1725) là một công thần thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Thời trẻ, ông trở lại gắn bó với miền Bắc, học tập và trưởng thành. Bởi vậy, nhà thơ viết: “Chúng ta là người miền Nam/ Nhưng tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh Bắc/ Còn tôi họ Nguyễn tỉnh Đông/ Huyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầm/ Hôm nay bỗng réo sôi từng hồi trống trận/ Khi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng!”. Tình cảm cá nhân ông đã hòa vào tình cảm chung của nhân dân, để nói lên tiếng nói của đồng bào, đồng chí, hòa vào sức mạnh tổng hợp của Đất Nước” (tr.99).  Anh còn nhận xét thêm về đặc điểm này khi so sánh với nền văn học Mỹ, góp phần trả lời cho câu hỏi: Vì sao nền văn học Mỹ thiếu vắng nội dung yêu nước trực tiếp như văn học Việt Nam?: “Thực tế cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, được những kẻ đồng lõa tiếp sức, mà tiến trình của nó không những không duy trì được sức mạnh vật chất vốn có mà còn bộc lộ những âm mưu đen tối, tất yếu dẫn đến những hành động phi nghĩa, mất hết tính người, không chóng thì chầy sẽ chuốc thất bại nhục nhã… Ở nước Mỹ, và đồng minh không hề có, và không thể có hiện tượng văn chương khích lệ quân đội và nhân dân dấn thân vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Bởi, văn chương không phải là phương tiện, không phải là công cụ phục vụ mưu đồ xâm lược, không đồng hành với chiến tranh phi nghĩa, cho nên ở đó không có nền văn chương và đội ngũ tác giả tiêu biểu, trong cũng như sau cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (tr.95). Đây là những nhận định đúng đắn, so sánh và nhận thức tận cùng vấn đề, nhưng do lâu nay chúng ta quen tiếp nhận giản đơn nên không tinh tế nhận ra.

Thế mạnh của Cao Ngọc Thắng khi nghiên cứu thơ còn thể hiện ở chỗ anh là nhà thơ, hiểu sâu về thi luật và cơ chế của tâm lý sáng tạo nên dễ nắm bắt và thâm nhập vào bên trong của ngôn ngữ, hình tượng để truy tìm nội dung một cách đúng đắn. Và yếu tố trực giác cũng đóng vai trò quan trọng khi liên hệ, phát giác vấn đề ở những biện pháp liên tưởng, đối lập và song song… để chỉ ra vẻ đẹp độc đáo và bất ngờ của thi ca. Cao Ngọc Thắng có được thế mạnh này nên khi phân tích thơ, anh thường xuất phát từ ngôn ngữ - hình thức quan trọng nhất để giải mã thi phẩm, để chỉ tài năng sử dụng ngôn ngữ, vần nhịp, các biện pháp tu từ của mỗi nhà thơ để tạo nhạc tính và tạo sinh nghĩa cho tác phẩm. Vì vậy, khi đọc những trang phê bình của anh về các nhà thơ hiện đại như Việt Phương, Bằng Việt, Hữu Thỉnh, Trần Nhuận Minh, Lê Thành Nghị… độ tin cậy cao, thuyết phục và vẫy gọi người đọc đồng hành thưởng thức

Khi nghiên cứu thơ Việt Phương, chỉ ra giá trị và nhân cách nhà thơ, Cao Ngọc Thắng cũng bám sâu vào ngôn từ thơ, triết mỹ thơ để hiểu rõ nhà thơ tài năng này: “Thơ Việt Phương có cái nhìn nhất quán về quá trình vận động không ngừng và cũng không ngừng chịu sự tác động qua lại lẫn nhau của sự vật và hiện tượng, được quy định bởi các mối quan hệ, liên hệ ràng buộc khách quan. Để tiếp nhận cái độc đáo trong Thơ Việt Phương, người đọc cũng phải đặt tâm thế của mình cùng cách chuyển tải cái lôgic mang thuộc tính của tồn tại mà tác giả gửi gắm vào các tác phẩm (chứ không dừng lại ở các câu thơ, bài thơ riêng lẻ)” (tr.105).

Khái quát được chất thơ và đặc điểm chung này nên anh đã chỉ ra được thi pháp thơ qua 02 tập Cửa mở (1970) và Cửa đã mở (2008) và cả đời thơ Việt Phương một cách bản chất: “Giữa Cửa mởCửa đã mở là một khoảng lặng, kéo dài ngót bốn mươi năm, của “đường thơ” Việt Phương. Tuy vậy, khoảng lặng đó không làm đứt mạch sự tri nhận, bằng trực giác nhạy cảm, các đối tượng qua lăng kính thẩm mỹ của ông. Từ Cửa đã mở, cùng tám tập thơ kế tiếp, hình thức biểu cảm, qua cấu trúc, qua nhịp điệu, thơ của ông chuyển sang sự chiêm nghiệm trầm lắng, uyển chuyển, nhưng vẫn trung thành với cách nhìn, cách xới lên những vấn đề quan thiết của cuộc sống, của các giá trị luôn biến động, tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực đến con người cá thể và con người xã hội. Qua đó có thể thấy, niềm tin và khát vọng ở Việt Phương là một” (tr.106).

Để hiểu cấu trúc thơ và cái cơ chế vận hành của nó, Cao Ngọc Thắng đã phân tích ngôn ngữ của từng bài thơ, chỉ ra chất thơ, giọng điệu thơ và tư duy thơ nhằm chỉ ra tiếng nói riêng, đường thơ riêng của Việt Phương. Và anh cho rằng: “Thơ Việt Phương là “loại thơ” phần nhiều để cảm, để tiếp nhận cái toàn thể mà nhà thơ đã dày công gom góp từ những mảnh vỡ, từ những chi tiết, nâng lên tầm khái quát của triết luận, từ đó mở ra hướng thức nhận mới, rộng rãi hơn về thế giới quan và nhân sinh quan, phù hợp với cuộc sống không ngừng biến chuyển từng giờ, từng phút. Sự biến chuyển ấy nói lên rằng bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nào đều có hai mặt và cùng vận động để tồn tại ở thế cân bằng, rằng khi mất cân bằng ấy là lúc phải có những tác động thiết lập lại để đưa cân bằng vào thế vận động mới” (tr.111). Đây là những nhận định mới và khác so với những nhà phê bình trước đây khi nghiên cứu thơ Việt Phương.

Với trường hợp Bằng Việt - người được đánh giá là cách tân trong thơ giai đoạn chống Mỹ lại được Cao Ngọc Thắng giải mã ở những điển nhìn và tư duy nghệ thuật mang cá tính và hương sắc riêng. Bằng Việt luôn đổi mới từ chính mình, rồi sau đó mới nhìn ra bên ngoài, bởi vì cái cũ và sức ì của thơ dễ làm tổn thương đến bản chất của thơ là phải luôn đổi mới và sáng tạo: “Thơ không chỉ “chậm”, thơ còn “vòng vèo, lẩn thẩn”, nhất là đi cùng “điệu tâm hồn đã cũ”, có ai còn cần đến nữa? Nhà thơ cảnh báo về tình thế khủng hoảng đơn điệu ấy của thơ, về sự soán ngôi vô ích của số lượng thơ, số người làm thơ, thay vì nâng cao chất lượng thơ, tăng cường sức sáng tạo thơ với nội dung thực sự hàm súc, hình thức luôn phải tươi mới” (tr.154).

Là nhà thơ và là dịch giả, Bằng Việt có điều kiện tiếp cận với thơ thế giới và có cơ hội để thực hành đổi mới; đồng thời thấy được tương quan giữa các nền thơ để mong sao cho nền thơ Việt nhanh chóng hiện đại, luôn thực sự cách tân, không nửa vời, làm dáng để nhanh chóng hòa nhập vươn ra biển lớn thi ca thế giới. Qua Bằng Việt, Cao Ngọc Thắng thấy được những vấn đề bản chất của thơ Bằng Việt nói riêng và liên hệ đến cả nền thơ nói chung: “Thế mới biết, chẳng phải sự thay đổi nào, cả trong suy nghĩ lẫn hành động, cũng là đổi mới. Đổi mới là liên tục, thường xuyên, từ cái nhỏ đến cái to hướng cùng mục tiêu, mục đích, thuận theo chân lý khách quan, có lô-gích, có tính chiến lược; còn nếu cố ý thay đổi một cách giả tạo, khiên cưỡng, chỉ vụ hình thức, thì cho dù to mấy, tinh xảo mấy, khôn khéo mấy, cũng chỉ là nhất thời, tạm bợ, cuối cùng chỉ đem lại sự lãng phí công sức, tiền của và thời gian” (tr.160).

Liên hệ bài thơ Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm giảng Thiền của Bằng Việt, thông qua đối thoại giữa Phật hoàng Trần Nhân Tông và đệ tử về vấn đề “cũ - mới”, Cao Ngọc Thắng nhận ra khát khao đổi mới thi ca và đổi mới xã hội mà Bằng Việt luôn theo đuổi và hy vọng: “Bằng Việt khép lại tập thơ ở đấy, nhưng lại mở ra muôn vàn suy tư về tiến trình tồn vong hay tụt hậu của cộng đồng nếu không chịu đổi mới, về ý nghĩa của công cuộc tìm kiếm giá trị cuộc sống và hạnh phúc đích thực của mỗi con người, về ý nghĩa của văn chương và nghệ thuật, làm sao phải đáp ứng là món ăn tinh thần tươi nguyên và mới mẻ đối với cuộc sống, còn nếu không đáp ứng được, thì ắt hẳn nó chẳng còn giá trị gì với thời đại” (tr.163). Đó cũng là mong ước của mọi người yêu thơ, mong nền thơ nước nhà luôn vận động, tiến về phía trước, đổi mới theo mục tiêu thể hiện cái Khác, cái Mới và cái Hay chứ không phải học đòi, làm dáng hay trò chơi ngôn ngữ một cách đáng trách.

Tôi thú vị với bài viết “Ghi chú cho tương lai” mà Cao Ngọc Thắng viết về nhà thơ Hữu Thỉnh để khẳng định sự liên tục đổi mới cảm xúc và làm mới thi ca của nhà thơ này. Anh xem Hữu Thỉnh là một hiện tượng đặc biệt có lý do để hy vọng của nền thơ hiện đại Việt Nam: “Hiện tượng” này chắc có nguyên do, mà người đọc có thể dễ nhận ra “tính nhịp điệu” của sự lắng để ngẫm ngợi của nhà thơ chuẩn bị cho “bước” thơ tiếp sau, tránh trùng lặp với “bước” thơ trước ở khía cạnh nào đó. Nhưng, không có nghĩa nhà thơ dễ dàng từ bỏ chất thơ riêng đã được định danh, mà là nhà thơ từng bước tìm tòi, khám phá, đổi mới chính mình trong quá trình lao động nghệ thuật ngôn từ, cũng chính là sự tự thức nhận thế giới thơ của mình” (tr.164).

Sau khi phân tích kỹ tập thơ Ghi chú sau mây, Cao Ngọc Thắng đi đến nhận định về tư duy thơ (tư duy hình, tư duy ý) của Hữu Thỉnh trong tập thơ này và chỉ ra sự nhất quán trong chuyển hóa, đổi mới trong kế thừa, sự thống nhất trong đa dạng… làm nên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thi ca, cuối cùng làm nên chất thơ và phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Cho đến tập thơ Ghi chú sau mây, thơ Hữu Thỉnh vẫn giữ trọn vẹn phong vị của một nhà thơ tài hoa với nhiều câu thơ tưởng như “bắt được”. Ông có cái duyên “làm đẹp” đối tượng bằng thủ pháp tu từ, nhân cách hoá cùng với phép ẩn dụ phong phú, làm bật lên những hình ảnh lung linh màu sắc, nhịp điệu dư ba. Nhiều bài trong tập thơ này, nhà thơ không dụng công về vần, mà dụng tâm về chất, nhằm tải được “trọng lượng” của những từ đa thanh, đa nghĩa và thắm tình, đậm chất nhân văn”  (tr.172). Với thơ, “nhà thơ Hữu Thỉnh chọn cho thơ của mình con đường đến gần hơn với cái chân, cái đẹp từ sự “tích thiện”. Bởi lòng thiện bao giờ cũng là cứu cánh của đời người, đồng thời là thứ công cụ đập tan sự trì trệ của thói quen một cách hiệu quả. Nhà thơ đặt niềm tin vào sự “tích thiện”, mà tương lai luôn bao bọc, nâng đỡ sự tu tập đến độ nhập thiền và giác ngộ. Niềm tin ấy, qua thơ, được truyền tới người yêu thơ và trở thành khát vọng luôn ngự trị trong tâm hồn của mỗi người, của mọi người” (tr.173). Những nhận định như thế rất đúng và chính xác với nhà thơ Hữu Thỉnh - một nhà thơ luôn nhập cuộc trên hành trình hiện đại và đổi mới của nền thơ hiện đại Việt Nam.

Chân dung các nhà thơ Trần Nhuận Minh, Trần Hòa Bình, Lê Thành Nghị và các nhà thơ khác đều được Cao Ngọc Thắng đi từ riêng đến chung và ngược lại thông qua thao tác phân tích tính chỉnh thể tự trị của từng tác phẩm để chỉ ra cái hay, cái đẹp, tính triết mỹ, tư tưởng của chúng môt cách mới mẻ, có tính phát hiện riêng của Cao Ngọc Thắng. Do khuôn khổ của bài viết, chúng tôi không thể minh chứng tất cả. Bạn đọc tiếp cận Miền ký ức của Cao Ngọc Thắng sẽ rút ra được những hiểu biết và nhận thức mới mẻ, bất ngờ cho riêng mình.

                                                  ***

Phê bình chân dung văn học suy cho cùng cũng là phê bình tác phẩm của một tác giả cụ thể để chỉ ra thi pháp riêng, phong cách riêng của họ trong nền văn học của dân tộc. Và nếu động lực, mục tiêu của phê bình văn học là lòng khát khao thưởng thức, hiểu và giải mã tác phẩm bằng cảm quan nghiên cứu và tài năng của người thưởng thức để thông điệp, chia sẻ với người đọc về cái hay, cái đẹp của văn chương, thì quả thật qua tập Miền ký ức, Cao Ngọc Thắng đã đạt mục tiêu đó một cách khoa học và mỹ học với tư cách là người trung gian, bắc cầu giữa tác phẩm với người đọc một cách sáng tạo và hiệu quả. Các tác phẩm và chân dung các nhà thơ được đề cập trong tác phẩm này đều được Cao Ngọc Thắng nghiên cứu, phân tích theo tinh thần truy tìm cái Mới, cái Riêng và cái Đẹp nên hấp dẫn, có sức vẫy gọi những người yêu thơ, yêu văn chương đồng cảm và tiếp tục đồng sáng tạo. Cao Ngọc Thắng từ một nhà thơ viết phê bình đã thành nhà phê bình thực thụ. Với tư cách hai trong một: nhà thơ và nhà phê bình, anh đã thực sự tạo nên một kiểu diễn ngôn phê bình đặc sắc, có giọng điệu và cá tính./.                                                                      

                                                                               

  Vỹ Dạ - Huế, 8-2025
          H . T . H

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây