Nhà giáo, Nhà thơ Nguyễn Thanh Lương
Nhớ lại những năm 1969-1970, anh ấy học lớp 10, trên tôi một lớp, nhưng cả hai vẫn quen biết, bởi chúng tôi đều làm công tác Đoàn và thi thoảng có tham gia Liên hoan Văn nghệ chung toàn trường với nhau. Tuy bẵng đi một thời gian dài chưa gặp lại, nhưng tôi vẫn dõi theo anh qua tin từ bạn bè hoặc những bài anh đăng trên Facebook. Hôm nay, nhân chuyến thăm “Hội chợ Mùa thu năm 2026” tại Khu triển lãm Quốc gia Đông Anh- Hà Nội, giáp quê anh; tình cờ hai chúng tôi gặp gỡ sau nhiều năm xa cách đã nối lại tình bạn. Bên chén trà nóng ở Quán nước ven đường, cả hai kể cho nhau nghe những chuyện về mưu sinh của gia đình, bản thân diễn ra từ đấy. Lát sau, anh rút ra trong túi sắc, và tặng tôi bài thơ “ Hồn làng trong phố ”. Vẫn chất giọng sôi nổi và trầm ấm anh giãi bày thêm: “Chả là, mấy tháng trước, anh cùng một số Đồng môn Khoa văn Trường Đại học Tổng hợp học năm 1970, (nay họ đã trên tuổi “ Cổ lai hy ” cả rồi) về thăm khu vực Mễ Trì ( Phường Mễ Trì, Quận Từ Liêm, Thành phố Hà Nội) - nơi họ học Đại học từ năm 1970, nay mới có dịp tụ họp nhau về thăm lại mái trường đã học cách đây trên 50 năm. Tiện chuyến, lại cùng ghé thăm làng Lụa Hà Đông, và làng Mễ trì - làng cốm mà vào ngày nghỉ mấy chàng Sinh viên tỉnh lẻ lên phố học thường hay lui tới”.
Vốn là người mê mải văn chương nên anh cứ xoắn vào. Anh kể chuyện về làng cốm Mễ trì: “ Vào một sớm mùa thu, nắng vàng ruộm, mọi người như bị đắm mình trong quang cảnh nhộn nhịp sản xuất cốm đầu mùa. Tiếng cốm rang nổ lét đét cùng mùi thơm của lúa non thoảng ngang qua thật là hấp dẫn…hình như anh đang kể cho tôi nghe về xuất xứ bài thơ thì phải? Đối với tôi, trước bài anh tặng hôm nay, tôi đã có dịp nhận ra gương mặt thơ của anh, đó là một lần nhân được đọc trên Báo Người Hà Nộii số ra ngày 12 tháng 07 năm 2019. Trong đó có đoạn viết (xin trích nguyên văn):
“ Nhà thơ Lê Minh Tý sinh năm 1951, quê Đông Anh, Hà Nội; Đại tá, nguyên Trưởng phòng Tuyên huấn - Bộ đội biên phòng - đã xuất bản tập thơ “Mắt Lá” nhà xuất bản văn học năm 2017. Thơ Lê Minh Tý khơi gợi chân thực đời sống từng trải, chiêm nghiệm lẽ đời. Cảm xúc ngọt ngào xoanh quanh trục dẫn ở từng giai đoạn đã hoá thành thi hứng đậm chất trữ tình, chất lính, ... Bởi vậy thơ anh tạo được sắc thái riêng không pha tạp. Nét truyền thống và đương đại hoà quyện, đan kết một cách dung dị, trong trẻo”. Tôi còn biết: Từ ngày ra tập thơ đầu tay đến nay, với sở thích văn chương, anh đã không ngừng nỗ lực và miệt mài với con chữ. Nhất là, sau gần 40 năm đời binh nghiệp, anh đã phấn đấu rèn luyện không ngưng nghỉ. Và năm 2009, về hưu tại quê (Thôn nhuế xã Thiên Lộc, TP Hà Nội). Được nghỉ ngơi, đồng nghĩa với việc anh có nhiều thời gian hơn để tham gia vào các Câu lạc bộ thơ từ xã, huyện và Hội Nhà văn Thành phố Hà Nội, để từ đó có điều kện học hỏi bạn bè, học các thế hệ đi trước, và dần trưởng thành trong lĩnh vực sáng tác thơ ca, văn học. Chả thế mà, từ năm 2017-2024, anh đã cho ra đời 4 tập thơ và 1 tập Bút ký, đều do các Nhà xuất bản có uy tin cấp phép và ấn hành. Các chủ đề anh đề cập phần lớn phản ánh đa dạng các khía cạnh đời sống, nhưng nổi bật nhất vẫn là mạch cảm hứng ca ngợi cái hay, cái đẹp của đất nước và con người. Bài thơ “ Hồn làng trong phố ”của Nhà thơ Lê Minh Tý cũng không ngoài chủ đề trên đây. Nội dung được toát ra như một khúc ca mượt mà âm điệu, thay lời của những người con quê hương và mọi nẻo ngợi ca nghề làm cốm ở Làng Thượng Mễ Trì, đồng thời là tiếng lòng tha thiết của người con quê hương trước vẻ đẹp và truyền thống của văn hóa dân tộc. Thơ về Làng cốm mang sắc thái tiêu biểu của làng quê Việt Nam thì không thiếu; thậm chí rất sâu sắc và phổ biến, ví như nghề làm cốm nổi tiếng ở Làng Vòng và các vùng miền khác nói chung và về Làng Mễ Trì nói riêng; đây không phairlaf chủ đề mới. Cái mới đây, chính là cảm xúc của tác giả và bạn bè của mình sau hơn nửa thế kỷ, nay mới có dịp trở lại - nơi họ bước những bước chân chập chững thời sinh viên rồi lại phải tạm biệt ngay. Cuộc thăm này, như cái gì mà họ hối tiếc cũng như là muốn xem cảnh vật chốn này đã đổi thay thế nào thời mở cửa? Quả thật giữ những kí ức và những điều thay đổi diệu kỳ của cuộc sống và cảnh vật đang hiện hữu, khiến người ta trộn rộn, khó tả. Trong bối cảnh đó, mỗi chúng ta đều hiểu: Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, cốm không chỉ là một thức quà dân dã mà còn là biểu tượng của mùa thu, của hồn quê và những giá trị truyền thống được gìn giữ qua nhiều thế hệ.Qua hình tượng hạt cốm và sự liên tưởng của tác giả cũng như của những người lao động gắn bó thiết tha, gần gũi với tiếng chày giã cốm, tác giả gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm tự hào về truyền thống lao động và ý thức bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam. Qua đây, cũng đồng thời toát lên một cách sâu sắc, nhưng không kém phần mềm mại, uyển chuyển để chuyển tải Giá trị của bài thơ : Ca ngợi vẻ đẹp của hạt cốm - kết tinh của thiên nhiên và sức lao động con người.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh hạt cốm dẻo ngon, hấp dẫn neo vào nỗi nhớ:
Cốm non từ lúa nguyên tươi
Chắt chiu từ đất ủ thơm tay người
Hai câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một quá trình tạo nên thức quà đặc sản của đất trời. "Lúa nguyên tươi" gợi sự tinh khiết, non mơn mởn của mùa màng. Hương cốm không chỉ là hương của thiên nhiên mà còn là hương của bàn tay lao động.Từ "ủ thơm tay người" đặc biệt giàu ý nghĩa. Hương thơm dường như thấm vào đôi bàn tay người thợ, chứng tỏ hạt cốm là sản phẩm kết tinh giữa thiên nhiên và công sức con người. Đây là cách nhìn mang chiều sâu nhân văn: giá trị của sản vật quê hương được tạo nên bởi lao động cần mẫn và tình yêu nghề.
Tiếng chày giã cốm - âm thanh của lao động và của truyền thống văn hóa. Một trong những hình tượng trung tâm của bài thơ là tiếng chày:
Chày khuya giã nhịp không lơi
Âm thanh thức dậy khua trời mùa thu
Tiếng chày không chỉ là âm thanh lao động bình thường mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa.Động từ "khua trời" được sử dụng rất gợi cảm. Tiếng chày vang lên giữa đêm khuya như đánh thức không gian, đánh thức cả mùa thu Hà Nội. Nhịp chày đều đặn biểu hiện cho sự bền bỉ của người dân làng nghề. Đến khổ thơ tiếp theo, như một dòng chảy cảm xúc. Nhớ hạt cốm thơm ngon bao nhiêu, nhớ đến công lao của người cày cấy lúa bấy nhiều, rồi qua bao giọt mồ hôi kết tinh từ bàn tay lao động của người dân vai trần chân đất khi đưa hạt lúc về , rồi chuyển nó thành hạt cốm thơm ngon, tinh khiết. Người thưởng thức cốm cũng như người làm cốm không sao quên được tiếng chày làm nên sản phẩm độc đáo qua âm thanh tiếng chày. Ngày xưa cốm giã chày tay, cối lặn; ngày nay, công việc giã cốm đã được thay bằng máy, nhưng người ta vẫn luôn nhớ đến tiếng chày giã cốm rạng sáng hoặc chập tối... Những âm thanh này đã ấp ủ và giấu kín trong nỗi nhớ khôn nguôi.
Chày khuya ấp ủ lời ru
Mang theo hồn Việt tiếng xưa vọng về
Từ một âm thanh thực, tiếng chày được nâng lên thành âm thanh của lịch sử và truyền thống. Nó "ấp ủ lời ru" - tức là nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt.
Câu thơ trên gợi cho ngườ ta, nhớ về tiếng giã cốm, nó không chỉ đơn thuần là sự lao động cơ bắp; mà đó chính là sự kết tinh từ lao động, kết tinh từ giọt mồ hôi của người lao động, xa hơn ,đó chính là nỗi nhớ của người lầm nghề cổ truyền, nó mang theo cả tâm hồn Việt, hạt cốm dẻo thơm, vừa bùi vừa ngậy lại thơm, mùi thơ khó tả. Cụm từ “ Hồn Việt tiếng xưa vọng về”, mang giá trị biểu tượng rất lớn. Tiếng chày không còn là tiếng chày của riêng làng Mễ Trì mà là tiếng vọng của văn hóa dân tộc từ quá khứ truyền sang hiện tại. Đây chính là tầng ý nghĩa sâu sắc nhất của bài thơ: bảo tồn làng nghề chính là bảo tồn hồn dân tộc.
Hương cốm gắn với ký ức quê hương và tuổi thơ
Từ hình ảnh làng nghề, cảm xúc của nhà thơ chuyển dần sang miền hồi tưởng:
Quên sao được hương cốm quê
Càng không quên cả say mê nhịp chày
Câu hỏi tu từ "Quên sao được" khẳng định sự gắn bó máu thịt với quê hương.
Điều đáng chú ý là nhà thơ không chỉ nhớ hương vị cốm mà còn nhớ cả "nhịp chày". Nghĩa là ký ức không chỉ được lưu giữ bằng vị giác mà còn bằng âm thanh. Những âm thanh bình dị của quê hương trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn con người.
Ký ức ấy tiếp tục mở rộng, liên thông tưởng tượng. Việc làm ra hạt cốm, thưởng thức hạt cốm mỗi khi mùa đến- Đó không hẳn chỉ là sự lao động, mà còn là những thứ men say lạ kì của hạt cốm sinh ra. Hình ảnh người thiếu nữ làng dân dã lao động nhưng đó là hình ảnh rất đẹp và tự hào khi có sản phẩm độc đáo được đưa lên đĩa, lên mâm phục vụ người tiêu dùng hoặc biếu bạn bè thân thích… Đây mới là thứ men say khó tả được lưu giữ trong cả người làm ra hạt cốm cũng như người thưởng thức. Hòa quện vào thành quả lao động rất đẹp và tự hào.
Hằn sâu ký ức men say
Dáng em thon thả vương đầy gió xuân
Hương cốm trở thành chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Trong dòng hồi tưởng ấy xuất hiện bóng dáng người con gái quê.
"Dáng em thon thả" vừa là vẻ đẹp của người thiếu nữ, vừa như hiện thân của quê hương thanh tao, dịu dàng. Hình ảnh này làm cho bài thơ không chỉ có hương vị của lao động mà còn có chất trữ tình đằm thắm.
Tình yêu quê hương gắn với ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc
Những câu cuối đưa cảm xúc từ nỗi nhớ cá nhân đến suy tư cộng đồng:
Mễ Trì ơi… mãi câu chờ
Giữ mùa, giữ đất, giữ bờ hương quê
Hương cốm, vị cốm. Ngày nay thời kỳ đổi mới cơ chế thị trường, có rất nhiều món ngon ẩm thực, song người ta vẫn nhớ hương cốm và nhắn nhủ những ai trong đời thường đến đâu cũng đừng quên hạt cốm, hương cốm. Thật tinh tế khi tác giả dùng phép láy điệp từ, càng gợi cho ta, nỗi nhớ thâm sâu và gìn giữ mãi nghề truyền thống của làng được cô đọng trong hương cốm quê hương:
Giữ mùa, giữ đất, giữ bờ hương quê
mang âm hưởng như một lời thề, một lời nhắn nhủ "Giữ mùa" là giữ những mùa lúa non làm cốm."Giữ đất" là giữ quê hương.
"Giữ bờ hương quê" là giữ toàn bộ không gian văn hóa truyền thống.
Tư tưởng ấy được đẩy lên cao hơn như tiếng “Vọng hồn dân tộc gọi về mai sau”. Câu thơ chứa đựng chiều sâu văn hóa. Nhà thơ ý thức rằng những giá trị truyền thống không chỉ thuộc về hiện tại mà cần được trao truyền cho các thế hệ tương lai.Đó là tư tưởng xuyên suốt của bài thơ: bảo tồn làng nghề chính là giữ gìn hồn cốt dân tộc. Nội dung bài thơ nói lên công lao của người lao động một nắng hai sương làm ra hạt cốm để phục vụ lại người lao động. Ta nhớ bài thơ không chỉ có nội dung đẹp mà thông quá thủ pháp nghệ thuật, giàu tính nhân văn, biểu tượng –hình tượng và thang âm, thính giác,khứu giác (nhìn ngắm, ăn, nghe và đượm mùi thơm…) để nói lên giá trị của hạt cồm- hương cốm làng Mễ Trì vấn vương. Đó chẳng phải là giá trị nghệ thuật của bài thơ sao? Bài thơ được nhiều người biết đến, bởi đã nói hộ những ai đã có dịp thưởng thức hương vị cổ truyền, lại nhớ công sức lao động của con người luôn một nắng hai sương để làm ra hạt cốm thơm ngon, quyến rũ. Câu từ gợi cảm nên càng làm cho tính trữ tình thêm hấp dẫn, sâu sắc được thể hiện nổi bật và thành công trên hai hình tượng trung tâm:
Hương cốm.
Tiếng chày giã cốm.
Hương cốm tượng trưng cho quê hương, tuổi thơ và ký ức.
Tiếng chày tượng trưng cho lao động, truyền thống và sức sống văn hóa dân tộc.
Nhờ đó bài thơ vượt lên khỏi việc miêu tả một sản vật địa phương để trở thành bài ca về bản sắc Việt Nam.
Khả năng gợi cảm bằng nhiều giác quan
Nhà thơ huy động nhiều tầng cảm nhận:
Khứu giác: hương sữa, hương cốm, hương cau.
Thính giác: tiếng chày khuya.
Thị giác: dáng em thon thả.
Cảm xúc nội tâm: men say ký ức.
Sự hòa quyện giữa các giác quan làm cho thế giới nghệ thuật của bài thơ trở nên sống động và giàu sức gợi.
Nghệ thuật điệp từ và nhịp điệu dân gian
Các từ ngữ lặp lại:
"Chày khuya"
"Hương cốm"
"Giữ"
tạo nên nhịp điệu đều đặn như nhịp chày giã cốm.
Âm hưởng bài thơ gần với lời ca dao và dân ca, đem lại cảm giác thân thuộc, mộc mạc. Giọng điệu trữ tình tha thiết.Toàn bài là tiếng nói của một người con quê hương đầy yêu thương và tự hào.Giọng thơ khi nhẹ nhàng, sâu lắng:
Quên sao được hương cốm quê
Khi thiết tha, khẳng định:
Giữ mùa, giữ đất, giữ bờ hương quê. Cũng chính là gìn giữ truyền thống tốt đẹp vốn có hàng ngàn năm để lại của người dân nơi đây.
Bài thơ "Hồn làng trong phố" của Nhà thơ Lê Minh Tý không chỉ ca ngợi hương vị thơm ngon của cốm - một đặc sản nổi tiếng của các làng nghề truyền thống như Làng Mễ Trì hay Làng Vòng - mà còn gợi lên những ký ức sâu đậm của tác giả cùng bạn bè sau hơn nửa thế kỷ trở lại thăm quê cốm. Ta càng thấy ý nghĩa của sáng tác, khi giữa những tác động của đời sống kinh tế hiện đại, của cơ chế thị trường, việc chuyển đổi nghề nghiệp được xoay chuyển chóng mặt để kiếm tiền bằng mọi giá, nhưng người dân làng cốm vẫn bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống, giữ gìn hồn quê và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Chính điều đó làm cho bài thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự trân trọng, biết ơn và niềm tự hào đối với những con người đã góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa Việt Nam. Đây là điều hết sức đáng quý và để lại nhiều cảm xúc đẹp trong lòng người đọc./.
N.T.L