

Lời bình của P.Gs,Ts, Nhà văn Hồ Thế Hà
Trại sáng tác “Huế quyến rũ” do Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Huế phối hợp với các Hội và Liên hiệp Hội các tỉnh/ thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Gia Lai tổ chức tại Huế vào mùa Xuân năm Bính Ngọ 2026. Tham gia trại viết, có sự góp mặt của các nhà thơ tên tuổi thuộc 06 Hội/ Liên hiệp Hội VHNT nói trên, bao gồm: Bằng Việt, Bùi Việt Mỹ, Lê Quang Sinh, Lê Ba, Kim Khánh, Trần Quang Khanh, Đào An Duyên, Bình Nguyên Trang, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Lê Tấn Quỳnh… Các văn nghệ sĩ đã thâm nhập thực tế và thật sự bị thu hút bởi vẻ đẹp quyến rũ của Huế từ sinh thái thiên nhiên đến sinh thái văn hoá - tinh thần nên đã biến chúng - từ cảm xúc trực quan sinh động thành cảm hứng thẩm mỹ để sáng tạo nên những tác phẩm hay, bất ngờ về địa - văn văn hoá Huế xưa và nay bằng cái nhìn thực chứng và hiện tượng luận sâu sắc. Trong đó, Đào An Duyên (Hội VHNT Gia Lai) là nhà thơ trẻ có chùm tác phẩm hay và bất ngờ về Huế: Khoảnh khắc, Dấu xưa và Đôi mắt Cơ Tu. Chính khoảnh khắc và dấu xưa và đôi mắt quyến rũ đó đã mang lại vẻ đẹp bất ngờ cho thơ Đào An Duyên mà tôi muốn đồng cảm và chia sẻ cùng tác giả trong bài viết ngắn này.
Huế từ lâu được xem là thành phố của thi ca - nhạc- hoạ với không gian trầm mặc, hư ảo, khói sương cùng với thiên nhiên, đền đài, lăng tẩm và thành quách cổ kính, rêu phong làm quyến rũ bao tao nhân mặc khách. Từ xư đến nay, có bao nhiêu thi nhân qua đây, họ đều xúc động và có thơ hay về Huế dù trong khoảnh khắc dừng chân mơ màng trước sơn thuỷ hữu tình. Huế đẹp còn ở màu sắc đa dạng của nó. Hình như cảnh vật ở đây đã làm cho màu sắc Huế luôn thay đổi, biến hoá. Màu diệp lục của cây trái, màu sáng của bầu trời, màu xanh của sông, màu u tịch của thành quách, màu ráng chiều từ núi Kim Phụng đổ về…đã tạo cho Huế một gam màu đặc biệt và luôn thay đổi theo thời khắc. Và ở đó, màu tím được hội tụ, tôn lên thành biểu trưng, thành định ngữ và đã đi vào văn học nghệ thuật như một sở hữu: Màu tím Huế. Nữ sĩ Lệ Thu quê Bình Định một đêm dừng chân nơi thành Huế đã nắm bắt được khoảnh khắc đó một cách tâm linh, huyền diệu để viết nên bài thơ xúc động: “Tôi không dám thốt lời khen Huế đẹp/ Bởi trước tôi bao thi sĩ nói rồi/ Nhưng màu tím sông Hương chiều khép nép/ Trăng đêm rằm Vỹ Dạ nói cùng tôi/ / Nói dùm tôi những khoảnh khắc trong đời/ Những hạt sáng kim cương vùi dưới đất/ Nếu sống lại tình yêu nào đã mất/ Chỉ tại Người mơ mộng đó Huế ơi” (Khoảnh khắc Huế).
Đến Huế sau Lệ Thu hơn 20 năm, nữ sĩ trẻ Đào An Duyên lại bất ngờ trước khoảnh khắc cố đô với tâm thế và rung kỳ diệu khác. Chị cảm nhận Huế không phải bằng hiểu biết có tính khái niệm chung chung mà là cảm nhận trong quan hệ gần gũi đời thường trước thiên nhiên và cảnh vật trong buổi chiều xuống chậm. Bài thơ Khoảnh khắc là kết quả của sự bừng thức ấy của chính nhà thơ:
Nhìn những mái nhà trong thung sương mờ ảo với khói lam chiểu bảng lảng, chị liên tưởng đến hơi thở chiêm bao quần tụ tìm hơi ấm, làm cho khung cảnh càng bâng khuâng và nghiêng chùng xuống thấp. Cả thông xanh, hoa cúc và hơi sương cũng được nữ sĩ nhân hoá để thành những thực thể có linh hồn: “Ngàn năm thông xanh/ Những bông hoa như cúc cài lại ánh nhìn bàng bạc/ Hơi sương buốt dấu cố cung”. Cảnh hoà cảnh và cảnh hoà hợp với lòng người dường như từ ngàn năm trước để bây giờ người thơ lạc vào sắc màu huyền diệus của Huế - lạc không tìm ra lối: “Chậm bước chân/ Vạch một đường bay qua muôn thế kỉ/ Mình như kẻ lạc đường/ Rẽ ngả nào cũng không tìm thấy lối/ Chỉ gặp toàn xanh”. Xanh cộng với sắc màu của cỏ cây hoa lá trong không gian mưa đã thành một tâm thế khuyết, rỗng khiến người thơ mơ về cố cung - nơi có ngàn cung tần mỹ nữ bơ vơ nơi lầu vàng, điện ngọc:
Bài thơ hay ở cách liên tưởng và đồng hiện xưa để nói nay và ngược lại, từ hiện tại để mở ra lối về quá khứ. Đó chính là khoảnh khắc của hoài niệm và khoảnh khắc của tâm trạng bừng thức trước vẻ đẹp đơn sơ mà thẳm sâu, quyến rũ của Huế.
Cùng cảm xúc và tâm thế như bài thơ trên, Đào An Duyên tiếp tục chiêm ngưỡng và vọng niệm một Huế xưa với cảnh sắc thiên nhiên cùng không gian cung cấm/ hậu cung với những ái phi buồn muôn thuở trước vương quyền thách thức nỗi cô đơn của sắc đẹp thanh xuân tàn phai không bao giờ hồi xuân thời son trẻ: “Rêu xanh búp ngà/ Xiêm y lộng lẫy một chiều mùa hạ/ Hoàng hậu ái phi đã từng lòng nhau bao đêm mất ngủ/ Hoàng bào uy quyền mắt trừng thét lửa”. Sự đồng cảm và xa xót đầy nữ tính cho những số phận buồn đã kéo theo cảm quan và tưởng tượng mang tính tâm linh huyền ảo, kiểu thần giao cách cảm (telepathy) khi nữ sĩ mơ màng thấy một vệt hài son cùng mắt ngọc mày ngài hiện ra trong đêm trăng dưới lòng giếng cổ:
Tư duy song song (parallel thinking) hiện lên bất ngờ khi Đào An Duyên mở ra cái nhìn đa chiều cảm xúc và tâm trạng khi chị mượn cảnh để ngụ tình. Quả là thiên nhiên và cảnh vật có ngôn ngữ riêng của nó. Vì thế mà cảnh tượng hoàng cung xưa không chỉ là rêu phong, phế tích mà nó bỗng hiện về trong hồi quang lấp lánh về một thời vàng son qua từng sắc màu men rạn và những hoa văn rồng bay phượng múa đang long lanh dưới ánh nắng trời trước mắt nhìn ngỡ ngàng của tác giả: “Nắng đã chín qua ngàn vạn năm/ Lời tung hô gốm men lấp lánh/ Hoa văn phác những rồng mây/ Thấy mình lạc về muôn niên kỉ”. Tư duy song song tiếp tục giúp Đào An Duyên thể hiện cảm xúc của mình bằng cái nhìn nhị nguyên, vừa trực quan từ Huế nay để đồng cảm với Huế xưa. Và khi ra về, trong chị dạt dào nỗi nhớ, gói tiếng “Dạ” ngọt ngào chầm chậm tan vào không gian chiều hư ảo:
Động từ “gói” là một phát hiện rất bất ngờ, từ hành động gói một đối tượng cụ thể: gói cái gì chuyển thành hành động vô hình: “gói tiếng Dạ”. Hữu hình hoá cái vô hình là một hiệu quả nghệ thuật thi ca khác, phản ánh kiểu tư duy song song của An Duyên, giúp người đọc cùng đồng cảm và xúc động với thông điệp thẩm mỹ mà bài thơ mang lại.
Trong chùm thơ về Huế, tôi cũng đồng cảm với bài thơ Đôi mắt Cơ Tu của Đào An Duyên ở cách đặt vấn đề và triển khai vấn đề từ cách tạo thi ảnh và thi ngôn. Tất cả đều xuất phát từ hình tượng trung tâm là đôi mắt của các sơn nữ Cơ Tu. Tác giả như nhập tình vào đôi mắt hoang vu, xanh thẳm hồn rừng của những cô gái vùng cao để mở ra không gian vừa thoáng đãng của thiên nhiên vừa đặc trưng của đời sống bản làng: “Mở ra buổi chiều/ Có sợi khói thở lên mái bếp/ Cánh dơi vỗ nhẹ thinh không/ Bông hoa nở bên bờ vắng lặng/ Tiếng chổi tre quét lá đốt mùa”. Vẫn đôi mắt ấy, nhưng hiện ra nhiều tính chất và sắc màu quyến rũ: hoang dã, hồn nhiên, đượm buồn và sâu lắng… dường như làm đá suối phải mòn và nước sông như trôi lóng lánh hơn. Vì vậy, đôi mắt ở đây được Đào An Duyên cảm nhận bằng cái nhìn dân tộc học và nhân học văn hoá, dẫu hoang dại, nhưng xanh biếc, gọi mời một không gian sinh hoạt mang tính folklore truyền thống hoà hợp, tươi vui giữa con người và thiên nhiên, cảnh vật như từ thần thoại, cổ tích hiện về:
Không gian núi rừng diễn ra trong ngày mới từ ban mai đến hoàng hôn qua những lối mòn như nan quạt cho con người và đàn trâu cùng về lại buôn làng trên lối nhỏ dùng dằng neo giữ niềm vui nương rẫy: “Mở một sớm ban mai ruộng đồng mùa gặt/ Thảo thơm rơm rạ áo mẹ mặn mồ hôi/ Cha đánh trâu thập thững qua sông lở bồi một kiếp/ Ngõ quê rộng một lối về”. Từ cái nhìn sinh thái thiên nhiên đến cái nhìn sinh thái xã hội - tinh thần như thế đã giúp người đọc thấy được sự hoà hợp, điều bình mà đôi mắt các em gái/ sơn nữ Cơ Tu chính là sự gọi mời lặng im nhưng quyến rũ để con người và cảnh vật không mồ côi nữa mà luôn gọi mời xích lại gần nhau:
(Đôi mắt Cơ Tu)
Có người đã ví đôi mắt các sơn nữ một cách hình tượng là đôi mắt “liếc mòn đá suối” mà kẻ tha hương bơi hoài không mỏi, còn với Đào An Duyên, đó là đôi mắt “Khẽ mở những chân trời chưa bao giờ xa ngái” để khi đêm về đôi mắt/ ánh mắt ấy vẫn ẩn dụ niềm vui đắm đuối và xanh biếc hồn rừng.
\
***
Vậy là tôi đã cảm nhận nhanh chùm thơ 03 bài của Đào An Duyên bằng chính thi ảnh và thi ngôn mà tác giả kiến tạo nên. Nếu lơ đãng lướt qua thì có thể chúng ta không thấy được vẻ đẹp mới lạ của bài thơ và xem đó chỉ là những cảm xúc miêu tả đơn thuần từ cảnh vật và con người cùng ký ức lịch sử, văn hoá có sẵn từ Huế. Nhưng nếu chịu khó đọc chậm và lần vào bên sau, bên sâu của câu chữ, hình tượng thì sẽ hiểu được cảm thức của tác giả khi tiếp cận, bình giá từng quan hệ, từng khách thể bằng cái nhìn hiện tượng luận khá mới mẻ sau khi đã trải nghiệm cùng đối tượng - nghĩa là Đào An Duyên đã cảm nhận thế giới khách quan như chính chúng hiện ra trong ý thức và cảm xúc của mình một cách tự nhiên. Và từ đó, chị phát hiện ý nghĩa mới và bất ngờ về chúng theo sự thâm nhập và hiểu biết của mình thông qua sự cộng cảm và thực chứng bằng tiếng nói thi ca. Với cách giải mã và phân tích 03 bài thơ về Huế của Đào An Duyên như thế, tôi đã cảm nhận được vẻ đẹp ngôn từ - hình tượng - tư tưởng mà từng bài thơ mang lại./.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Sinh hoạt chuyên đề: Tính trung thực và nhân bản trong thơ Trần Thùy và Phùng Trung Tập
HỌA SĨ HỒNG HUYÊN VÀ NHỮNG MỐI TÌNH TRẮC TRỞ
ĐẠO LÀM NGƯỜI TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
TRẢ NHỚ CHO SÔNG - Những vần thơ trữ tình đưa con thuyền lục bát xuôi dòng sông lãng mạn
Tâp Trường ca NGÔI SAO ĐỎ TRÊN ĐỒI XANH của Phùng Trung Tập
VỀ VỚI XỨ THANH - thơ nhiều tác giả
Loài hoa thắp lửa gọi hè
Trang thơ Tháng Sáu của nhiều tác giả
ĐOÀN NHÀ VĂN HÀ NỘI ĐI THỰC TẾ SÁNG TÁC TẠI THANH HÓA
VÀI NGHĨ VỤN từ đám cưới sáng nay
BÉ CÁI NHẦM
Đọc tập thơ "Hoa cỏ lau" của Trương Vạn Thành
KẺ DỌN VƯỜN
Thơ viết cho mình - Tác phẩm và tác giả...
DẠT ‘VÒM” và CUỘC HỌP GẤP CỦA 4T