Mấy ý kiến nhân đọc tiểu thuyết Làng cò của Nguyễn Đạo Vinh

Chủ nhật - 08/08/2021 21:49
P.Gs, Ts Trần Thị Trâm
Mấy ý kiến nhân đọc tiểu thuyết Làng cò của Nguyễn Đạo Vinh


     Gần đây phong trào viết văn không chuyên phát triển rất rầm rộ: “Chúng tôi vô danh nhưng chúng tôi đông hơn rất nhiều so với những người nổi tiếng” (Lê Văn Ngăn). Song đa số các tác giả không chuyên thường làm thơ và viết tản văn. Nên khi thấy Nguyễn Đạo Vinh đến chơi và tặng bộ tiểu thuyết 2 tập, dày dặn, tôi không khỏi ngạc nhiên. Càng ngạc nhiên hơn khi biết được trước đó anh đã có tới 8 tác phẩm, ở hầu hết các thể loại: truyện ngắn (3 tập), ký và truyện ký (2 tập), phóng sự (1 tâp), tiểu luận (1 tập), thơ (in chung 1 tập).

Với thái độ trân trọng, tôi đã đọc khá kỹ và nhận thấy, đây là cuốn tiểu thuyết về đề tài nông thôn được viết công phu. Nội dung phong phú, cốt truyện hấp dẫn, tư liệu ngồn ngộn và sinh động; chứng tỏ tác giả không chỉ đam mê văn chương mà còn là một người chịu quan sát, chịu suy nghĩ, có vốn sống thực tế lớn.

Tiểu thuyết “Làng Cò” gồm 2 tập (NXB Hội Nhà Văn, 2021) tổng số gần 900 trang, được viết theo mạch kể truyền thống, kết cấu mạch lạc, lớp lang bài bản.

Tác phẩm được chia làm 70 chương (tập 1: 37 chương, tập 2: 33 chương). Mỗi chương là một mẩu truyện nhỏ xoay quanh nhân vật trung tâm là Cao Xuân Thăng. Không gian nghệ thuật chủ yếu là thôn Cò Quay, một làng quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Còn thời gian nghệ thuật kéo dài suốt từ những năm 50 của thế kỷ XX đến tận hôm nay.

Mở đầu là việc chàng kỹ sư trẻ, phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp thôn Cò Quay Cao Xuân Thăng, một người “sinh ra là để cống hiến (tr. 339, T1) yêu Cúc – hoa khôi trong làng. Tình yêu của họ đang hứa hẹn bao điều tốt đẹp nhưng bỗng chốc tan vỡ. Thăng vô cớ trở thành nạn nhân của một lũ người xấu xa, hiểm ác, táng tận lương tâm bởi anh không giống họ, can tội” làm cán bộ mà không biết “mắt nhắm mắt mở tay duỗi tay co, giả câm, giả điếc, giả thong manh” (tr. 93, T2).

Không sống được ở làng Cò, Thăng tìm cách trốn ra trận. Khi đất nước giải phóng, anh thương binh Cao Xuân Thăng trở về làng và kết duyên cùng Cúc. Họ chí thú làm ăn và hết lòng giúp bà con vận dụng kiến thức khoa học kỹ thuật phát triển sản xuất. Nhưng vì ghen ăn tức ở, bọn cường hào mới ở địa phương tìm mọi cách triệt phá. Bị o ép quá mức, Thăng đã phản ứng và bị bắt trói giải lên huyện. Biết chuyện, ông Tình, trưởng công an huyện đã thả Thăng và cử người về điều tra chân tướng sự việc. Bất ngờ ông Tường cha anh- một chiến sỹ tình báo tưởng đã hy sinh nay lại trở về làng với quân hàm đại tá. Thăng được minh oan, lại được bầu làm chủ nhiệm hợp tác, rồi bí thư Đảng ủy xã Đoài. Đám tham quan ô lại đã phải đền tội.

 Là một nhân tố mới, đầy nhiệt huyết có trình độ, có tâm, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, Thăng “sẵn sàng đạp qua mọi khó khăn trở ngại để đạt được mục tiêu là có lợi cho dân” (tr. 248, T2). Từ khi được xã viên tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã, “anh luôn đau đáu phải làm thế nào để nâng cao mức sống của bà con nông dân lên một bước mới” (tr. 247, T2). Lúc “ở cương vị mới, Thăng như con thiêu thân hết lòng chỉnh đốn lại chi bộ, sắp xếp lại đội ngũ lãnh đạo” (tr. 257, T2), hết sức phấn đấu để xây dựng quê hương giàu đẹp. Nhưng rồi do cơ chế, Thăng bị cuốn vào vòng xoáy của quyền lực, tiền tình, bỏ ngoài tai lời khuyên của vợ và những người chân chính, từ nạn nhân anh trở thành tội nhân, liên tiếp mắc vào nhiều phi vụ tham ô, tham nhũng. Thậm chí Thăng còn đồng lõa với kẻ xấu làm hại cả Tuấn Cương - ân nhân của mình. Kết cục, anh phải ngồi tù, con trai nghiện ngập. Mãn hạn trở về thì vợ đã mất, để lại ba cha con anh côi cút giữa cõi đời. Mọi sự ân hận của Thăng giờ đã trở nên muộn màng.

 Qua số phận đầy bi kịch của Thăng, từ một điểm nhìn đã chọn, Nguyễn Đạo Vinh đã góp phần dựng lại một cách sống động bức tranh làng quê Việt Nam trong suốt một thời kỳ dài gần 2 phần ba thế kỷ… Từ đó rút ra những bài học bổ ích.

Ngoài cốt truyện hấp dẫn, thành công của tiểu thuyết “Làng Cò” còn do tác giả đã lựa chọn được những chi tiết đắt giá và có tính điển hình: chi tiết học sinh trường tiểu học gõ trống rồng rắn đi cổ động, thanh niên làm bèo dâu, bà con xem chiếu phim ngoài bãi, chi tiết cô Linh bày tỏ nỗi thèm khát: “Năm nay tao đã 22 mà chưa được ngửi hơi thằng đàn ông nào. Giá bây giờ có thằng què thằng cụt, thậm chí thằng chột thằng mù đến hỏi tao cũng lấy” (tr. 50, T1), chi tiết xã viên lấy trộm thóc, trộm phân đạm bằng những cái mẹo vặt, ông Tường đã có giấy báo tử nhưng còn sống trở về. Có những chi tiết thật độc và lạ: ông Sáu thợ cầy khi ăn cơm nhà chủ “trước khi đứng lên còn vục một bát đầy và tất vào mồm, thêm tý cá mắm vừa đi vừa nhai. Về đến nhà mớm cho con bé thứ hai” (tr. 223, T1), xã đội trưởng Bùi Cơ nhổ bãi nước bọt vào đĩa tái dê để mọi người không dám ăn. Có những chi tiết vô cùng ám ảnh: đàn chó đói tranh giành nhau đám xương sau đám cưới hụt của Tu và Cúc, cảnh làng Cò trong vòng xoáy chóng mặt của cơn sốt đất, gã cò Cảnh liên kết với những kẻ chức quyền bóp nặn những người dân hiền lành khiến họ bị bần cùng hóa làm người đọc không khỏi giật mình, xa xót...

 Cuốn phim quay chậm ấy cho thấy sự nhanh nhạy trong phát hiện và thể hiện những vấn đề nhức nhối ở làng quê của cây bút Nguyễn Đạo Vinh và những hiểu biết thấu đáo của anh về nông dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đương đại.

Thành công của tác phẩm còn được thể hiện rất rõ ở khâu xây dựng nhân vật bởi nhân vật bao giờ cũng là trung tâm của tiểu thuyết.

Thế giới nhân vật trong “Làng Cò” khá đông đúc. Tất nhiên, nhân vật chính không nhiều. Ngoài Thăng là những cán bộ chủ chốt người làng Cò. Tuy mỗi nhân vật một tính cách, một lý lịch nhưng họ phần lớn đều là những kẻ vô học, dốt nát, chuyên dùng mưu hèn kế bẩn để hại những người không cùng cánh hẩu, chuyên “bớt xén, ăn chặn của dân từ cái kim sợi chỉ đổ đi” (tr. 417, T1) và có lối sống thật bậy bạ: “Ngần ấy đứa con, nhưng chả dám chắc đứa nào là con chính thống của mình nữa” (tr.189, T1).

Dưới ngòi bút của tác giả, mỗi nhân vật lại hiện lên một diện mạo riêng và được miêu tả bằng một bút pháp riêng.

Chủ nhiệm hợp tác xã Trần Xuân Cẩm, nguyên là tay phó cối dâm ô, mất nết, trốn nghĩa vụ, bất chấp luật pháp, điếc không sợ súng. Thật khéo léo khi tác giả để chính bà vợ vì uất ức đã tự bóc mẽ làm lộ rõ cái bản chất xấu xa của lão: “Ông nghĩ ông là ai? Bản thân là một anh phó cối, chữ viết chưa thạo, một tý kiến thức nông nghiệp cũng chả có. Làm cái chân chủ nhiệm như ông ai chả làm được. Chẳng qua là anh em nhà ông lôi kéo nhau kết bè kéo cánh để giữ ghế cho nhau tôi còn lạ gì?” (tr.117, T1)

Phó chủ tịch xã Vương Trí Thông tham lam xảo trá, xuất thân mò cua bắt ốc, làm ở đâu thì vơ vét, tham ô ở đó. Từ 800 viên ngói phân phối cho gia đình liệt sĩ, lão khoanh thêm con số 1 đằng trước để lấy ra 1000 viên bán ăn chênh lệch. “Khi còn làm trưởng trại lợn, hắn cùng đồng bọn thịt trộm lợn, ngỗng đẻ quả nào mang về nhà quả ấy. Thóc chăn nuôi chở về nhà bán đi lấy tiền đánh chén rượu thịt chó. Rỗng kho hắn liền đốt để phi tang rồi cùng Bùi Cơ gán tội cho Hoành bắt anh ta phải đi cải tạo. Khi làm đội trưởng thủy lợi hắn bớt xén tiền công, khai man khối lượng đào đắp và di chuyển mồ mả...” (tr.190, T1).

Phó chủ tịch huyện Dương Đình Cự, một đứa con rơi, một kẻ cơ hội, gian manh, vô ơn bạc nghĩa, trong cải cách đã đấu tố, bắt giam bỏ đói khiến ông bà mẹ nuôi phải chết thảm. Theo Thông: hắn “chả được tích sự gì chỉ được cái ăn tục nói phét” (tr. 166, T1). “Lão định diệt ai thì gán cho cái tội, cấm có cãi được” (tr. 189). Cái câu cửa miệng ngớ ngẩn “À gì nhẩy” đã toát lên sự vô văn hóa đến tức cười, sự kệch cỡm, không tương xứng giữa danh và thực ở lão.

 Bí thư đảng bộ xã Tốn là một kẻ nịnh bợ, đểu giả, liều lĩnh, trắng trợn. Hắn đã không từ một thủ đoạn bẩn thỉu nào để lấy bằng được Cúc và triệt hại Thăng người bạn than thiết thuở thiếu thời. Trong thời gian làm bí thư đảng ủy, bất chấp luật pháp hắn đã làm mưa làm gió, tác oai tác quái khắp xã Đoài.

Lũ tay chân đàn em cũng cùng một giuộc: Trần Hội (Trưởng công an xã) “nổi tiếng sợ ma, rất kiệm lời chỉ cốt ăn là chính. Ông này ăn uống so với Thông là tương đương” (tr. 195, T1)

Bùi Cơ “xã đội trưởng ít tuổi hơn cả nhưng chuyên gắp lửa bỏ bàn tay người” (tr. 195, T1).

Những nhân vật phụ gồm: ông Tỉnh- trưởng công an huyện, ông Tuyến huyện đội trưởng, Tuấn Cương - Trưởng ban tổ chức và kiểm tra, ông Sơn - thư ký ủy ban, Ly - trưởng phòng tổ chức huyện. Đó là những cán bộ có lương tâm, có trách nhiệm, dám đấu tranh chống lại cái xấu, bảo vệ sự công bằng nhưng vai trò của họ còn có vẻ mờ nhạt.

Với những nhân vật quần chúng như: bà Tường (mẹ Thăng), Cúc, ông bà Hoàn (cha, mẹ Cúc), ông bà Tiềm (bố mẹ nuôi của Thăng, bố mẹ đẻ của Tồn và Gái), Xoan, ông bà Duy (bố mẹ Xoan) ... tác giả ít nhiều cũng quan tâm tới việc miêu tả tâm lý. Ví dụ, trong buổi tối Thăng và Cúc đi chơi, nghe tiếng kẻng báo hiệu phải về nhà để anh em dân quân tuần tra ban đêm, Cúc nói với người yêu: “Mấy bố sao hôm nay đánh kẻng sớm thế?”(tr. 13, T1). Ngay nhân vật rất phụ là ông Duy (bố Xoan) tác giả cũng chú ý làm rõ tính cách: hiền lành, nhu nhược, sợ vợ của ông.

Bên cạnh những mặt tốt, những điều đáng thương, Nguyễn Đạo Vinh cũng không quên chỉ ra những hạn chế của quần chúng: “Ở nhà thì tranh giành nhau từng câu nói, kém cạnh một tí thì thế nọ thế kia. Ra ngoài thì câm như thóc chẳng dám mở mồm. Nói ra sợ họ chia cho ruộng rạ nát, đống khoai thối, bắp ngô sâu. Quá nữa thì cán bộ họ vu cho là phản động họ tống vào tù thì khốn. Thôi cứ im nịnh họ đôi câu được ăn cái ngon, được làm việc nhẹ ai chả thích (tr.184, T1)

Về ngôn ngữ và giọng điệu

Ngôn ngữ trong “Làng Cò” được vận dụng khá sinh động. Đó là một lớp từ nhà quê đặc trưng và đắt giá. Trước hết lượng thành ngữ tục ngữ dày đặc: dăm dối cối sống, qua sông đấm bòi vào sóng, rắn mất đầu, tư tung tự tác, trai khôn dựng vợ, trạch trong giỏ cua. Tắt lửa tối đèn, tưởng bở thấy mỡ mà húp ma ăn cỗ, đàn bà như bom nổ chậm, Đàn bà như hạt mưa sa, trên đe dưới búa, tham bong bóng bỏ bụng trâu, trông giỏ bỏ thóc, hợp tác xã là nhà, … Nhiều trang xuất hiện đến 5, 7 thành ngữ tục ngữ. Ví dụ trang 188 (tập 1), có 6 thành ngữ tục ngữ. Trang 313 (tập 1) có tới 7 thành ngữ, tục ngữ.Viết về nông thôn nếu sử dụng đắc địa thành ngữ, tục ngữ, ca dao thì dễ đạt hiệu quả cao.

Thứ hai, rất nhiều từ tượng hình, tượng thanh lạ tai: thèm quắt tai, tí toáy, thây lẩy, trễm trệ, xơ múi, xin đểu, tềnh tềnh, khúm lúm, tí toáy, đẩn đi, đẩn lại, bốc bải đạp xe, bấm bụng...

Thứ ba, ngôn ngữ mang hơi thở đời sống đương đại: bụi bặm với không ít tiếng nói tục, chửi thề: nốc, liếm, đ. mẹ, tổ sư, mả mẹ

Còn giọng điệu nổi bật là giọng hài hước, giễu nhại. Có cái cười khôi hài, hóm hỉnh nhưng phần lớn là những cái cười ra nước mắt.

Đó là cái cảnh thầy Nam hiệu trưởng cấp 1 xã Đoài đưa chiếc loa làm bằng giấy cát tông lên miệng kêu gọi bà con vào hợp tác xã “với cái giọng ồm ồm giở ngâm giở tuồng: Cầm vàng còn sợ vàng rơi/ Vào hợp tác xã đời đời ấm no(tr. 9, T1). Đó là lão Cự phó chủ tịch mà cứ mở mồm ra là “À gì nhẩy, à gì nhẩy” không khác gì một con rối.

Rồi những cái tường thì bị xây ưỡn ra đường. Nhà kia con hư hỏng toàn tập nhưng lại được cha mẹ đặt cho những cái tên rất gia giáo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín… Và ngoài xã hội thói vô cảm như một đại dịch tràn lan “mọi người cứ mặc cho cái sai, cái xấu ngang nhiên chèn ép cái đúng, cái tốt… Họ từ bỏ lối sống vì mọi người, để đi đến với chủ nghĩa Mackeno” (tr. 358, T1) …

Nhìn chung tiểu thuyết “Làng Cò” của Nguyễn Đạo Vinh có nhiều cái được. Chẳng hạn, cốt truyện hấp dẫn, cách dựng truyện lô gich, nhân vật được xây dựng khá thành công, ngôn ngữ, giọng điệu phù hợp với đối tượng… Mặt khác, tính cách nhân vật của Nguyễn Đạo Vinh, không nhất phiến mà dưới tác động của hoàn cảnh luôn vận động và phát triển (Trường hợp của Thăng và Xoan) …

 Nhưng ta không khỏi băn khoăn, liệu những truyện xảy ra ở “Làng Cò” đã thật sự điển hình cho làng quê Việt Nam những năm chống Mỹ và 35 năm Đổi mới chưa? Tôi cứ cảm thấy lạnh sống lưng khi đọc đến đoạn bà Tính kêu trời: “Ối trời cao đất dày ơi! Từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi chưa bao giờ thấy bao giờ khốn nạn như bây giờ” (tr. 352, T2).

Theo quy luật, lịch sử luôn vận hành ở thế đi lên. Tất nhiên, mỗi bước đi bên cạnh cái được bao giờ cũng có cái mất nhưng rõ ràng, cái được lớn hơn cái mất rất nhiều. Chẳng hạn nhờ phong trào hợp tác xã mà những chiến sỹ yên tâm ra trận bởi gia đình họ ở hậu phương đã được quan tâm, đời sống cơ bản được đảm bảo. Nhờ công cuộc Đổi mới, đất nước đã phát triển vượt bậc như hôm nay...

 Vẫn biết, nhà văn có quyền miêu tả cái xấu nhưng mục đích của nghệ thuật là phải vươn tới cái đẹp. Việc nhìn thẳng vào sự thật là cần thiết nhưng qua đó phải giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Tuy Thăng đã nhận ra sai lầm, đã rút ra bài học để cảnh tỉnh những ai nếu không có bản lĩnh sẽ bị hoàn cảnh quật ngã nhưng chưa thấy anh đứng lên từ vấp ngã và sau Thăng vẫn chưa thấy xuất hiện một nhân tố mới nào. Tuy tất cả bọn tham quan ô lại đều phải trả giá: Thông bị kỷ luật Đảng, điên loạn rồi bị chết cháy. Cẩm bị kỷ luật, bị cách chức, bị Xoan mang con về đòi tiền, rồi tự đâm vào cổng làng mà chết. Cự bị chính Tu đứa con hư hỏng của mình đòi tiền không được đã dùng dao đâm chết. Tốn (bí thư Đảng uỷ xã) cũng bị kỷ luật mất chức… Song cái kết này vẫn thấy có vẻ hẫng hụt và chưa thỏa đáng. Bởi vì bọn chúng lại dường như chỉ bị trừng trị theo luật nhân quả, ác giả ác báo mà thôi.

Chưa kể thoáng có những chỗ miêu tả con người có vẻ tự nhiên chủ nghĩa. Ví dụ rõ nhất là cuộc tình chung chạ dễ dàng giữa Xoan và gã bệnh nhân giả vừa quen diễn ra ngay trong phòng bệnh của Thăng trong lúc cô vì muốn được làm vợ anh mà đến đây chăm sóc Thăng.

Mặc dù còn có những hạn chế nhưng tiểu thuyết “Làng Cò” của Nguyễn Đạo Vinh quả thật vẫn là một tác phẩm đáng đọc. Chúng tôi tin rằng, ở tuổi đang độ chín, với lòng nhiệt huyết, đam mê tác giả sẽ là một cây bút sung sức và đầy hứa hẹn.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây