Truyện ngắn của Đặng Thiều Quang
Bây giờ có lẽ chả mấy ai nhắc đến tên cũ của phố ấy nữa. Bọn trẻ con sinh ra chẳng quan tâm tới nguồn gốc làm gì. Không chỉ tên riêng phố, mà nhiều thứ nữa bị phớt lờ. Ngay cả giấy khai sinh, bọn chúng cũng có thèm để ý tới nữa đâu. Những người già thỉnh thoảng có nhắc tới chuyện cũ theo kiểu kể lại một vụ cướp ấy mà.
Thực ra đó chẳng phải vụ trộm cướp gì, nhưng người ta có thói quen kể lại với những kịch tính xen lẫn chất hài để câu chuyện hấp dẫn người nghe. Ví dụ như miêu tả cái chết, họ nói “Thằng ấy lăn đùng ngã ngửa ra, giãy đành đạch, chết đứ đừ”. Còn về cái nghèo khó, họ bảo “Ngày ấy chúng tao nghèo như chó”. Nếu so với chó Nhật bây giờ thì chó mới là người, còn bọn tao mới là chó”.
Họ nói đúng. Ngày ấy, khu phố này nghèo sơ xác. Tôi không dùng từ đắt như những vị hàng xóm, nhưng tôi sinh ra ở đây – tôi biết tất cả. Đó là những ngôi nhà dột nát, xiêu vẹo, không ra một hình thù gì. Khi chiếc loa truyền thanh treo ở cột điện đầu phố đưa tin báo bão thì điều đó cũng đồng nghĩa với tát nước. Chả bù cho những ngày xếp hàng hứng nước ở máy, xô thùng dài dằng dặc… Thế mới buồn cười. Nước cống rãnh, rác rưởi thì luôn sẵn sàng ngập vào nhà, còn nước ăn lại chờ từng giọt. Tôi luôn phải cùng đám thanh niên trong phố thức tới một giờ sáng hứng nước, chỉ có duy nhất một người trạc tuổi chúng tôi không phải làm việc ấy. Đó là anh con trai ông Toàn khâu giày. Anh ta tên là Thắng, hơn tôi hai tuổi. Theo cách nói của mọi người thì anh bị ít nhất là năm thứ bệnh tật. Tôi hay thấy anh sau cửa sổ - chẳng khác gì một bộ xương.
Người gắn bó nhất với cái máy nước là cô gái cạnh nhà tôi. Có lẽ vì cô mà tôi có đủ kiên trì để đợi hứng nước. Lúc nào cũng thấy cô bên những chiếc thùng dài dằng dặc. Bọn con trai chúng tôi luôn xúm lại buông ra những câu ỡm ờ. Chẳng nói ra, nhưng thằng nào cũng tơ tưởng tới cô ấy. Cả tôi cũng vậy. Có lần tôi hỏi mẹ về cách ăn hỏi, cưới xin.
Bà quát:
- Mày lại bị con Lan hớp hồn rồi hả? Bọn thanh niên cả phố này điên lên vì nó chắc?
Cô ấy đẹp thế thì không điên sao được. Tôi sẵn sàng điên nặng vì cô ấy. Không một đứa con gái nào trong phố sánh kịp cô. Thế nhưng nghĩ đến bố mẹ cô thì tôi sởn gai ốc, đó là loại người vắt cổ chày ra nước. Trước khi cưới cô, phải cưới cả bố mẹ cô nữa. Nhà tôi nghèo, cả phố nghèo. Tất cả đều hiểu rằng chỉ có người giàu mới cưới được cô ấy.
Nhà tôi đối diện với nhà ông Toàn, tôi để ý thấy rằng cửa hiệu của ông nửa tháng mới có người tới khâu giày. Lẽ dĩ nhiên gia đình ông gần như chết đói. Nhà tôi không đến nỗi như thế, chúng tôi có việc làm đều đặn. Cứ tối tối bố mẹ, anh, chị và tôi cắm cúi dán hộp giấy đựng thuốc. Cứ 10 hộp được một hào bạc, tôi nhớ hồi đó, năm hào mới mua được hạt ô mai sấu của bà Tâm mù lòa. Không phải bà ấy bán đắt, mà đó là giá ô mai rẻ nhất lúc bấy giờ. Cũng không phải vì bà ấy tốt bụng. Dù mù lòa nhưng chưa bao giờ bà nhầm tờ một hào với tờ năm hào. Nghèo khó và mù lòa đã tạo cho bà thứ giác quan khác. Có thể ngửi tiền, sờ vào tiền, hay nghe tiếng sột soạt mà biết giá trị của nó chứ. Thằng Lựu cùng lớp với tôi một lần bị bẽ mặt. Nó lừa bà không nổi. Cũng đáng đời thôi, nó định mua ô mai để đi chơi tối với con bé phố bên. Hừ! Đã đi chơi lén lút, thì phải có ô mai chính đáng chứ. Nó bị bà Tâm túm tay dẫn đến trước cửa chửi xơi xơi, gần như là chửi cả bố mẹ nó, cả phố nữa. Thằng Lựu cúi gằm mặt xuống đất. Tuy không đồng tình với kiểu lừa gạt của nó, song tôi vẫn thấy thương cảm. Tôi hầu như căm ghét và khinh bỉ bà Tâm. “Đã mù rồi còn quái vật”.
Trong phố, tôi còn ghét nhiều người khác nữa. Chẳng hạn như đám nhạc hiếu ấy. Có hai anh chàng non choẹt chuyên thổi kèn, đánh trống và một ông giả đảm nhận việc rên rỉ. Tôi luôn bị ám ảnh rằng họ làm cái chết thêm rầu rĩ, thê thảm. Ấy thế mà họ nuôi sống ba gia đình bằng cái tiền rên tỉ tò tí te. Hàng ngày, hàng đêm họ đi đến bên những xác chết để kiếm tiền, người nào mặt cũng vàng bủng, mắt lờ đờ, tôi vừa ghét, vừa ngài ngại. Ngày còn nhỏ, bọn trẻ con chúng tôi lấy bùn ném vào cái biển gỗ “Phục vụ nhạc hiếu” treo trước cửa nhà ông già khóc mướn. Không ai biết đến tên ông, chỉ biết rằng ngày ông chết, người ta viết tên ông là Khóc Hiếu. Và đám ma ông, dân trong phố khóc thật, cả tôi nữa – Tôi thương ông già cô đơn. Nghe nói rằng thời chạy Tây ông bị lạc mất gia đình. Hai anh chàng kia thì khỏi phải nói, khóc như ri, khóc hơn cha chết. Tôi cũng chẳng nhớ tên của họ. Có điều, chắc chắn đấy là đám ma thực sự của họ. Tất nhiên, sau đó hai người vẫn đi tới những đám ma khác, thay nhau khóc. Mỗi người đều có trên vai một gánh nặng cha mẹ, vợ con, vài ba cái miệng ăn… Một trong hai người đó kế tiếp sau nhà Lan. Trước ngày lấy vợ, dám chắc rằng cũng như tôi, anh ta từng tơ tưởng cô gái xinh đẹp ấy. Nhưng cái nghèo đã giúp anh ta an phận với một người vợ xấu xí và những đám ma não nùng.
Lan đẹp và xinh. Có một đêm tôi biết điều ấy. Vô tình thôi, đêm sáng trăng tôi leo lên gác thượng hóng mát. Chợt nghe ào tiếng nước bên cạnh, tôi nhìn sang nhà cô. Tôi không tin vào mắt mình nữa, nhưng rõ ràng ánh trăng có thật, Lan khỏa thân đứng tắm. Từ trước tôi chỉ cảm khuôn mặt xinh của cô, lúc đó tôi cuồng dại vì cơ thể tuyệt vời – lúc đó tôi mới thật sự yêu cô.
Lan là thứ duy nhất đáng giá trong cái khu phố tồi tàn này. Tôi viết một bức thư tỏ tình thống thiết cho cô. Nhưng nghĩ đến chuyện Trương Chi, tôi lại thôi không dám gửi mà cất vào đáy tủ quần áo. Đúng vậy, cô chẳng phải công chúa gì cả, nhưng cái nghèo hèn đã lấp họng bao chàng trai. Tôi là kẻ nghèo khó, nên căm giận nó hơn bất cứ ai. Nhưng đấy không phải điều cơ bản. Tôi không bảo bố mẹ dạm hỏi Lan, chỉ vì nghĩ đến chuyện Trương Chi. Tại sao trên đời lại có một con người bất hạnh kiểu ấy. Tôi căm giận cả anh ta lẫn công chúa… Kể cả cái chuyện ấy nữa. Nhà Lan nghèo như nhà tôi, nhưng nếu như dạm hỏi, thế nào thiên hạ cũng xì xèo… “Cái nhà ấy! Thế mà cũng dám hỏi con Lan kia đấy!”. Ngày đó tôi đọc dăm ba cuốn tiểu thuyết nói tới những tình yêu bất chấp ấy. Thật là đẹp đẽ: Hai con người yêu nhau trải qua bao dâu bể, rồi đủ mọi thứ đại diện cho cái Ác hành hạ, chia cách… cuối cùng họ vẫn vượt qua, nhưng điều đó cũng chẳng giúp gì được cho tôi. Thế là ngay khi tình yêu cháy bùng lên dữ dội và bột phát như chính cái tuổi hai mươi của mình tôi lại đủ bản lĩnh để dập tắt nó đi bằng được. Ngày ấy, tình yêu đâu có dễ nói với ai, tôi im lặng nuốt tất cả quả đắng. Tôi lại cần mẫn dán bìa các-tông thành những chiếc hộp đựng thuốc. Cứ mười hộp được mười hào chính đáng, không sợ ai xì xèo điều gì. Tôi hết cái tuổi để ngậm ô mai rồi, ngay cả thằng Lựu cũng thế - nó chỉ mua cho con bé người yêu phố bên. Có một hôm nó bảo tôi:
- Thực ra tao yêu con Lan phố mình hơn. Nếu mà ăn hỏi chỉ cần mấy hạt ô mai thì nó đã là vợ tao rồi.
Cuối năm ấy thằng Lựu cưới vợ, bọn con trai trong phố cũng rủ nhau đi lấy vợ gần hết. Ngày cưới của thằng Lựu chỉ có ít bánh kẹo, nước trà ướp sen, người ta mượn được một chiếc dàn A–Kai và mở nhạc buồn não nùng. Tôi còn nhớ bài hát đó:
… “Vừa chiều hôm nao tôi với anh đi dạo phố, hai đứa vòng tay âu yếm như đôi tình nhân”…
Tôi làm phù rể. Thằng Lựu dúi vào tay tôi một tờ giấy, dặn dò: “Mày giữ hộ tao. Tao không dám gửi đi, không dám đốt mà không muốn mang theo. Con vợ nó sẽ ghen. Về nhà hẵng xem”
Về nhà tôi giở ra xem mới biết đó là một bức thư tỏ tình của thằng Lựu viết cho Lan. Nhưng cũng như tôi, nó không dám gửi đi. Tôi lại nhét nó vào đáy tủ quần áo, cạnh lá thư của mình.
Mùa cưới năm ấy, bọn thanh niên trong phố cưới vợ, lấy chồng gần hết. Chỉ còn tôi, Lan cùng vài người quá lứa, vài đứa quá nghèo. Dưới đáy tủ của tôi đã thêm vài cái thư tỏ tình như của tôi và của thằng Lựu. Bọn chúng đều tin tưởng rằng tôi ở độc thân, chúng đều muốn gìn giữ chút gì đó đã qua đối với Lan, cứ dặn đi dặn lại rằng không được đốt. Khu phố vắng nhiều, xơ xác thêm, tiêu điều thêm sau mùa cưới. Những đôi vợ chồng trẻ tìm đến phố khác dễ làm ăn hơn, để lại khu phố cũ nỗi buồn trống vắng. Đám cưới của đứa bạn sau cùng vẫn mở cái băng nhạc vàng ấy:
“Từ ngày xa nhau chinh chiến đưa anh về đâu
Khu phố ngày xưa nay vắng anh không còn vui…”
Tôi chẳng chú ý tới nội dung bài hát, nhưng trong cái lạnh cuối mùa thu, nghe nó sao buồn quá. Gió heo may thổi về từng đợt nhẹ làm những chiếc lá vàng lăn trên hè phố, rơi xuống rãnh nước. Những mảng tường rêu mốc như lạnh lẽo hơn. Tôi và Lan ngồi cạnh nhau nghe bài hát ấy, cả hai đều buồn theo kiểu riêng của mình. Chẳng ai chú ý tới chúng tôi, họ đang bận bịu chúc tụng đôi vợ chồng trẻ, trong túi tôi cũng có một lá thư của anh ta - người chồng đang mỉm cười mãn nguyện kia kìa. Không biết là lá thư thứ bao nhiêu rồi? Tất cả bọn đều coi Lan là điều tốt đẹp đã qua. Họ đều biết tôi là cái hòm thư công cộng đáng tin cậy, họ chẳng ngại ngần tọng vào áo tôi những lời lẽ yêu đương ngày nào.
Còn Lan, cô vẫn xinh đẹp như thế. Tôi chưa nhìn thấy ai đẹp hơn, và tôi cũng chưa thấy ai đến dạm hỏi, mặc dù cô ấy nết na, dịu dàng nhất, nhưng bà mẹ nào cũng đe:
- Lấy nó rồi khổ đấy con ạ.
Mà người ta sợ cái khổ quá rồi. Từ xưa tới nay, tôi và cô thân nhau nhất trong phố, xong hoàn toàn là bạn bè. Cô không thể biết sự đổ vỡ và đau khổ của tôi năm hai mươi tuổi. Tôi đã chôn nó như chôn một cục thịt thừa. Hẳn rằng cô ấy biết đã có lúc tất cả con trai trong phố đều yêu mình mê mẩn. Trong số đó chỉ còn tôi sót lại. Nhưng tôi đã hai nhăm tuổi. Nếu có đào cục thịt thừa kia lên thì chắc nó cũng thối rữa, năm năm rồi còn gì!
Tôi và cô đi dự đám cưới về. Chúng tôi chẳng nói gì, để lặng cho gió heo may nói hết nỗi buồn của nó. Hôm sau nghe tin cô ốm liệt giường. Bà mẹ cô bỏ bán hàng về nấu cháo cho con ăn. Ông bố đi lại như điên cuồng. Lỗi đâu phải tại ông bà ấy cơ chứ?
Một tuần sau đó thì cô ấy chết. Tôi gục mặt vào gối khóc. Cô ấy nằm đó, đôi môi nhợt nhạt. Tôi xin được chạm vào tay cô lần cuối. Bàn tay ấy vẫn còn âm ấm, mềm mại. Tôi chợt thấy mình ác độc. Lẽ ra tôi có thể lấy cô, hoặc tôi sẽ lấy ai đó và đi khỏi đây. Chứ lẽ nào tôi lại đứng nhìn cô như thế này. Tôi cũng nhận ra mình không lấy vợ, hình như là để chờ đợi cái kết cục này. Nó gần như là sự trả thù vậy. Tại sao lại như thế?
Tôi nhìn Lan lần cuối. Tôi khóc cho cô, rồi lặng lẽ đi ra, tự an ủi: “Cái gì cũng trôi qua cả thôi”. Ra đến phòng ngoài, tôi thấy bên nhà ông Toàn thợ giày cũng khóc inh ỏi. Lại cái gì nữa kia? Một bộ xương nằm trên giường. Đó chính là Thắng khi nghe tin Lan chết. Bệnh tim - một trong năm thứ bệnh đã quật anh lăn đùng ngã ngửa ra, giãy đành đạch, chết dữ dội - Tôi nhắc lại y nguyên lời của mấy bà lắm điều. Đấy là lần đầu tiên tôi vào nhà ông Toàn và được nhìn anh ta thật gần, bây giờ tôi mới biết anh ta còn bị liệt, đau dạ dày… Anh ta thật sự là một bộ xương.
Người ta tìm được những thếp giấy dày cộp được cất trong phòng anh ta, phòng có cửa sổ nhìn sang nhà tôi và nhà Lan. Đó là những bức thư anh ta viết cho Lan. Anh ta yêu cô ấy từ rất lâu. Có lẽ ông Toàn khâu giày chỉ đủ tiền giấy mực cho cậu con mình. Nhưng dù sao anh ta cũng có lý do chính đáng để không gửi những bức thư ấy đi.
Tôi về xé vụn tất cả những lá thư trong tủ quần áo rồi vứt xuống cống, chứ không đốt, nó cũng cần được mục ruỗng như cục thịt thừa.
Đám tang được làm cùng một ngày. Chuyện này cả phố đều xót xa. Bà Tâm mù lòa phều phào khóc, rồi nhất định giúp cho ông lão Toàn cái quan tài mà lẽ ra bà giành tiền mua cho mình, bà chả có con cháu gì cả.
Cái phố nghèo ấy mất đi thứ quý giá nhất. Ai cũng cảm thấy có lỗi. Chỉ có gió là vẫn vô tình kể lể nỗi buồn tê tái của nó trên hè phố.
Cuối hai đám tang ấy, những lá thư của con trai ông Toàn được đốt cẩn thận. Gió heo may lùa dọc nghĩa trang mang tàn tro bay đi, không biết sẽ bay về đâu.
Thế nhưng những người có mặt lúc đó tin rằng cuối cùng những bức thư cũng đã được gửi tới nơi.
H, Ngày 31/7/1994
TB : Cái nghèo có dễ hiểu đâu ! “Vạn tội bất như bần “ ! Phải xóa đói , xóa nghèo mới có hạnh phúc vui sống được, mới được là chính mình trong Tự do !
Đ.T.Q
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chùm thơ của Bùi Văn Kha
Người thương binh đánh Giày
Viết nhân ngày Thương binh - liệt sĩ của các nhà thơ nữ Hà Nội
BÁC HỒ VỚI CÔNG TÁC CHÍNH SÁCH TRONG QUÂN ĐỘI
CHI HỘI 1 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔ CHỨC GIAO LƯU TẠI CÔNG VIÊN ƯỚC
CỎ HÁT - thơ Phạm Thị Hồng Thu và lời bình
Con bò đi chiều thuận
NGƯỜI Ủ TRẤU THẮP "HUYỀN THOẠI LÀNG" trong thơ Nguyễn Văn Thích
A PA CHẢI, MỘT LẦN ĐẾN CẢ ĐỜI THƯƠNG NHỚ
Trang thơ Tháng Bảy của nhiều tác giả
Năm tác giả Thơ (10 )
Dưới bóng cây ô liu
Hương cốm - hồn của làng trong phố mãi nguyên tươi qua thơ Lê Minh Tý
Tầm cao mới của Nhà văn Nguyễn Mạnh Thắng QUA TIỂU THUYẾT “ĐƯỜNG ĐỜI VÀ SỐ PHẬN”
XU HƯỚNG ĐỊNH HÌNH THƠ HIỆN ĐẠI