Nguyễn Khuyến với bài thơ: Câu cá mùa thu

Thứ ba - 28/09/2021 09:52
Kim Sa
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909)

     Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là người hiếu học, học giỏi, đỗ đạt cao (từng đỗ đầu cả ba kì thi Hương, thi Hội, thi Đình nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ). Tuy đỗ đạt cao nhưng ông chỉ ra làm quan hơn mười năm. Ông được bổ nhiệm làm quan ở Nội các Huế, rồi lần lượt làm Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghệ An, biện lí Bộ Hộ, làm Bố chánh Quảng Ngãi. Năm 1879, ông đươc sung chức Trực học sĩ, làm Toản tu ở Quốc sử quán. Năm 1883 triều đình Huế cử ông làm Phó sứ cùng với Lã Xuân Oai đi sứ sang nhà Thanh, Trung Quốc, nhưng chuyến đi phải đình lại vì sự kiện thực dân Pháp đánh vào Thuận An. Cùng năm ấy ông được cử làm Tổng đốc Sơn Tây, nhưng ông từ chối, lấy cớ đau mắt nặng, xin cáo quan về làng cũ hưu trí. Để mua chuộc sĩ phu Bắc Kì, thực dân Pháp sau này nhiều lần mời ông ra làm quan trở lại, nhưng ông dứt khoát không ra.

    Nguyễn Khuyến là một nhà nho tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân, nhưng đành bất lực trước thời cuộc. Ông từng bày tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác với chính quyền thực dân Pháp.

   Về tính tình, Nguyễn Khuyến là người thâm trầm, độ lượng, kín đáo và mực thước, vui buồn đều không thái quá. Đặc biệt, ông gắn bó máu thịt với miền quê Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam và những người nông dân nghèo khó. Trừ hơn mười năm đi làm quan ở nơi xa, còn lại phần lớn cuộc đời 74 tuổi của ông dành trọn cho nông thôn quê nhà. Nguyễn Khuyến được mệnh danh là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). Chỉ với Nguyễn Khuyền, lần đầu tiên nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học.

      Bài thơ : Câu cá mùa thu

    “ Câu cá mùa thu”  nằm trong chùm thơ Nôm  nức tiếng của Nguyễn Khuyến viết về mùa thu: “Thu vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm”. “Câu cá mùa thu” hòa hợp giữa cảnh thiên nhiên thanh sơ của nông thôn êm đềm, vắng lặng vào tiết thu với tâm trạng thời thế của thi sĩ.

    Về thể loại, theo sự phân loại truyền thống, “Câu cá mùa thu” thuộc thuộc thể thơ trữ tình, thể hiện tình thu của thi nhân. “Câu cá mùa thu” được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Gợi tả cảnh thu, tình thu, tác giả sử dụng bút pháp chấm phá của nghệ thuật cổ điển, đồng thời có những sáng tạo đặc sắc riêng. Bút pháp cổ điển với những môtip quen thuộc: thu thủy (nước thu), thiên thu (trời thu), ngư ông (người câu cá), nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Những sáng tạo riêng với những hình ảnh chân thực mà đầy chất thơ của đồng bằng Bắc Bộ, cách gieo vần thần tình.

                                   CÂU CÁ MÙA THU
                            Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
                            Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
                            Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
                            Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
                            Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
                            Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
                            Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
                            Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

   Làng cảnh Việt Nam lúc đất trời vào thu đẹp một vẻ đẹp thanh sơ, bình dị mà thật nên thơ, nhưng không mấy ai đưa được vẻ đẹp ấy vào thơ một cách thần tình như Nguyễn Khuyến. Cũng chẳng mấy ai nói được tình cảm bình dị mà lắng sâu của con người Việt Nam với làng xóm quê hương như ông. Nhắc đến Nguyễn Khuyến, người yêu thơ không quên được chùm thơ của ông viết về mùa thu như một chùm hoa đẹp hương sắc lâu bền, trong đó bài “Câu cá mùa thu” được coi là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyên Khuyến.

   Nhan đề bài thơ là “ Câu cá mùa thu”, nhưng mục đích không ở việc kiếm cá ăn; câu cá chỉ là cái cớ để tiêu sầu và để cảm nhận hương sắc mùa thu. Còn gì thú vị hơn được ngồi câu cá giữa  một vùng phong cảnh thân thuộc của quê hương mình, để hồn thu thấm vào hồn người. Lúc Nguyễn Khuyến viết bài thơ này, gót giày quân xâm lược Pháp đã đặt lên nhiều nơi trên đất nước, xã hội thuộc địa đã được lập nên ở một vài đô thị. Nhưng làng quê Việt Nam, làng quê muôn đời của Nguyễn Khuyến vẫn giữ được vẻ đẹp thanh sạch, giản dị, duyên dáng như cô gái chân quê xứ Bắc với “cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen”. Nguyên Khuyến đi câu cá là để tắm mình trong không khí nguyên sơ ấy của mùa thu quê hương cho khuây khỏa nỗi thương đau trong lòng.

                               Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
                                Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

   Bài thơ mở ra thời gian và không gian nghệ thuật đầy thi vị, đầy ắp không khí làng cảnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vì đi câu cá nên điểm xuất phát của cảm hứng là chiếc “ao thu”. Ao là một hình ảnh thân quen, thân mật, bình dị ở làng quê xứ Bắc. Nguyễn Khuyến chọn ao thu để khơi nguồn thi hứng vì đó là điệu tâm hồn ông: thân mật, chân thành, bình dị, vô cùng  gắn bó với làng quê. Chiếc ao thu trong tấm lòng yêu thương và rung cảm thẩm mỹ của Nguyễn Khuyến đẹp và gợi cảm như một tác phẩm mỹ thuật. Chiếc ao thu ấy “lạnh lẽo” một cách cũng đầy chất thơ. Gió thu đã mang heo may về và ban phát cho vạn vật của mùa thu để cho nó đáng yêu hơn. Từ cái nóng oi khó chịu của mùa hè chuyển sang cái se se lạnh của heo may mới thật là thi vị. Đã vắng những cơn mưa rào xối xả của mùa hạ, nước trong ao thu thấm cái lạnh của heo may mà lắng trong đến cái độ như được lọc, trong vắt “trong veo” đến tận đáy. Bên trong cái tiếng “trog veo” đặt ở cuối câu thơ như có niềm rung cảm thích thú. Trời hôm ấy lặng gió và rất nhiều nắng, rất sáng, nước trong ao mới có độ ”trong veo” như thế. Mới chỉ nói nước thu (thu thủy) mà ta đã thấy trời thu, nắng thu, gió thu. Độ hàm súc, sự tinh tế trong cách dùng từ của Nguyễn Khuyến cũng thật đáng nể. Trước mắt người đọc là một khoảng không gian mùa thu trong sáng và tĩnh lặng vô cùng.

   Hiện lên trên khuôn “ao thu”, giữa không khí thu “lạnh lẽo” ấy là “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Người đi câu không ngồi trên bờ mà ngồi trên chiếc thuyền câu để buông câu chính là để mở góc nhìn không gian thu cho rộng ra. Ao thu chắc không thể to lắm, cho nên chiếc thuyền câu cũng phải “bé tẻo teo” cho hài hòa với khuôn ao. “Bé” chứ không phải là “nhỏ”, chiếc thuyền câu bỗng trở nên xinh xắn, đáng yêu như một thứ đồ chơi khi nó “bé tẻo teo”. Đó chính là chiếc thuyền thúng quen thuộc ở vùng quê Bình Lục, chiếc thuyền chỉ vừa đủ cho một người ngồi, vừa đủ để gọi là “thuyền”, nhỏ hơn chút nữa thì thành cái thúng! Cách đây non một thế kỉ người ta thấy rất nhiều chiếc thuyền thúng như thế len lỏi giữa xóm làng của Hà Nam, nước lụt mênh mang “Bóng thuyền thấp thoáng vờn trên vách – Tiếng sóng long lanh vỗ trước nhà” (Nguyễn Khuyến – Vịnh lụt).

    Ngồi trên chiếc thuyền giữa ao thu nên nhiều vẻ đẹp của mùa thu dễ đến trong tầm nhìn của thi sĩ.

                            Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
                            Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

  Hai câu thực này là cảnh trong tầm nhìn gần (cận cảnh). Trong ao nhỏ có sóng, có gió nhưng rất nhỏ, rất nhẹ nhưng rất đẹp. “Sóng biếc” nghĩa là “sóng xanh”; sóng theo gió nhẹ chỉ “hơi gợn” trên mặt ao thành hình, “lá vàng” cũng theo gió “khẽ đưa” thành tiếng. Cả hình và tiếng đều cực nhỏ. Cuối hai câu thơ, nổi lên hai từ đối nhau: “tí”, “vèo” – một từ nói lên cái cực nhỏ về hình khối, một từ diễn tả sự cực nhỏ  của âm thanh.. Không gian tĩnh lặng của mùa thu cứ tăng dần theo từng cấp độ: “hơi gơn – tí”, “khẽ đưa – vèo”. Qua âm thanh , người đọc còn nhận dạng được chiếc lá với hình dài thon nhọn, nhẹ và nhỏ: chiếc lá tre, lá trúc đang xoay xoay mà liệng xuống. Không gian động mà tĩnh, hữu thanh mà vô thanh. Những làn sóng hơi gợn, âm thanh mơ hồ của chiếc lá vàng khẽ đưa vèo như xao động trong cõi lòng cũng tĩnh lặng như làng quê, như mùa thu của thi sĩ.

                                 Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
                                  Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

    Không gian nghệ thuật đột ngột mở lên chiều cao và mở ra hướng trước mặt. Trên cao là trời thu trong xanh, trước mặt là đường làng ngõ xóm mùa thu quanh co, vắng vẻ. Trong cảm nhận của Nguyễn Khuyến, da trời mùa thu có màu “xanh ngắt” rất khơi gợi, cái màu xanh liền một khối tinh khiết, thăm thẳm khiến cho những ai ngẩng mặt lên ngắm trời thu đều có cảm giác mông lung, huyền ảo, vời vợi. Nhờ có “tầng mây lơ lửng” ở bên dưới mà nhận ra “trời xanh ngắt” bên trên. Đó là một nét quen thuộc của thi pháp cổ điển: lấy điểm tả diện.

   Đang vào mùa vụ, người ra đồng làm lụng nên đường làng, ngõ xóm  vắng lặng. Thảng hoặc có người thì cũng bị cái quanh co của ngõ trúc che khuất. Thành thử không gian vắng lặng đến tuyệt đối : “vắng teo” !

   Ở hai cặp câu thực và luận có đủ cả sóng, gió, trời, mây, có màu sắc, âm thanh, hình ảnh, có chuyển động . . . Nhưng mỗi từ ngữ trong bốn dòng thơ ấy đều gơi cho ta phải đọc bằng giọng êm êm, nhẹ nhẹ. Âm hưởng bốn dòng thơ nhẹ êm như hơi thở.

                           Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
                           Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Đến đây chủ thể trữ tình mới xuất hiện, xuất hiện trong tư thế bất động “tựa gối buông cần” – tư thế co lại, như thu nhỏ mình lại để giảm bớt diện tích tỏa nhiệt tránh cái “lạnh lẽo” giữa ao thu. Ngồi như thế cũng là để ngồi cho lâu, cho khỏi phải thay đổi tư thế làm mất di cái tĩnh lặng trong cõi lòng đang mải suy tư và khỏi đứt đi “dây tơ” vô hình đang giăng mắc trong không gian mùa thu làng quê êm đềm, bởi vì “Không gian như có dây tơ – Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến muốn ngồi trong tĩnh lặng mà trầm tư mặc tưởng, hòa nỗi cô đơn trống trải của lòng mình vào cô tịch, trong trẻo của mùa thu làng quê. Thực ra khi lấy cớ đau mắt nặng để cáo quan về hưu ẩn dật, Nguyễn Khuyến đã mang nặng mặc cảm sự bất lực trước thời cuộc. Trong bài thơ “Di chúc”, ông có những câu thơ đau đến từng chữ:

                                     Ơn vua chưa chút báo đền,
                              Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời.

   Cho nên thấm đẫm trong “Thu điếu” là tâm sự rối bời trước thời thế của ông, ôm cần buông câu để tiêu sầu mà mối sầu càng đọng lại trong tư thế bất động, thấy chiếc “lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” mà thảng thốt thấy thời thế thay đổi quá nhanh, non sông đã rơi vào tay giặc mà mình chẳng thể làm gì để báo đền ơn vua, nợ nước.

   Bàì thơ kết lại bằng cái thảng thốt khi trong im lặng bỗng có tiếng cá “đớp động dưới chân bèo”. Chữ “đâu” được dùng thật thần tình, nó như cái giật mình thảng thốt, lại như cái ngơ ngác kiếm tìm của người mất phương hướng. Ba phụ âm đầu hữu thanh trong  ba từ “đâu đớp động” làm rung động câu thơ, rung động cả tâm hồn người đang mải suy tư. Dù chỉ là rung động mơ hồ (có mà như không) cũng đủ làm cho không gian mùa thu lắng lại tĩnh vô cùng. Đó cũng là một nét quen thuộc của thi pháp cổ điển : lấy động tả tĩnh.

   Tiếng Việt trong “Câu cá mùa thu” đã ở độ kết tinh, giản dị, trong sáng , tinh tế, uyển chuyển, có khả năng diễn tả những biến thái tinh vi của sự vật, những uẩn khúc rất khó giãi bầy của tâm trạng. Vần “eo” là loại “tử vận”, oái oăm không dễ theo, đã được Nguyễn Khuyến dùng một cách thần tình để diễn đạt uẩn khúc của tâm tư.

   Vẻ đẹp giản dị, thanh sơ của mùa thu làng quê Việt Nam; vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Khuyến: trong sáng, bình dị, tinh tế và chân thành, rất gắn bó với những gì thuộc về quê hương và dân tộc . . . đó là những gì đã làm cho bài thơ “Câu cá mùa thu” sống mãi trong lòng các thế hệ bạn đọc.

9/2021. KS

Nguồn tin: , bai: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây