P.GS, TS Hồ Thế Hà
Đỗ Thành Đồng là nhà thơ viết nhanh, viết hay và viết có hiệu quả. Thơ anh thuộc về mỹ học của cái đẹp và cái nhân văn giàu tính triết nghiệm, luôn gắn với nhân sinh và đời tư - thế sự một cách nồng say và trách nhiệm. Qua đó, anh thể hiện cái tôi đang tư duy và cái nhìn nghệ thuật luôn vận động và biến đổi theo từng trục không - thời gian và quan hệ sống cũng “đang đập vào thơ muôn vàn lớp sóng” (Chế Lan Viên). Diễn ngôn nghệ thuật thơ anh cũng luôn biến hoá theo tâm thức của thời anh sống, phù hợp với tâm lý và tầm đón nhận của bạn đọc thời hiện đại. Thế giới hình tượng thơ anh luôn xuất phát từ sự quan sát và chiếm lĩnh hiện thực khách quan, biến mọi khách thể - từ đối tượng của cái nhìn trực quan thành cảm xúc nội tâm của ý thức thẩm mỹ để cuối cùng biến thành cảm hứng sáng tạo thi ca.
Đến nay, Đỗ Thành Đồng đã ấn hành 08 tập thơ, được bạn đọc tiếp nhận và đồng cảm. Riêng tập thơ lần này, anh lại ưu tiên thể hiện bằng thể thơ được xem là anh minh của dân tộc và anh gọi tên là Lục bát đời. Anh đã tỏ ra sở trường và làm chủ thể loại 6-8 truyền thống này một cách nhuần nhuyễn và tạo được thi pháp riêng. Vườn thơ lục bát Đỗ Thành Đồng là nơi để anh thức nhận, trầm tư về niềm vui, nỗi buồn nhân thế.
Trước khi đi vào thi giới Lục bát đời của Đỗ Thành Đồng, tôi muốn ôn lại một cách khái quát về thể thơ lục bát để thấy đặc trưng và thử thách thể loại mà tác giả phải vượt qua những giới hạn để thành công. Quả là lục bát Việt Nam đến nay đã có tiến trình hàng ngàn năm vinh quang và phát triển từ lục bát ca dao đến lục bát trong văn học viết qua các thời kỳ, các giai đoạn mà ở các thành tựu đỉnh cao thường có những cách tân, dự cảm và triển vọng mới. Nó luôn phá và thay, làm vơi bớt những xưa cũ, lỗi thời và làm đầy thêm những mới mẻ, bất ngờ. Từ lục bát truyện thơ Nôm đến lục bát Truyện Kiều của Nguyễn Du và của thơ trung đại; từ lục bát của Phong trào Thơ mới đến lục bát hiện đại các giai đoạn kháng chiến và cho đến ngày nay, qua tay các thi tài của dân tộc, bao giờ lục bát cũng thể hiện sự anh minh, dẻo dai và bền bỉ của mình. Chứng tỏ lục bát chưa bao giờ chịu hạ cánh và bất lực trước những đổi thay của hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người, trước yêu cầu và tầm đón đợi mới của độc giả. Cái gì đã làm nên sự kỳ diệu ấy của lục bát? Chính là sự khôn ngoan, uyển chuyển và linh hoạt của thể loại, mà mỗi nhà thơ luôn biết tự điều chỉnh và thay đổi nội bộ cấu trúc chỉnh thể của bài thơ trên cái mã nền (code) 6-8 một cách nghệ thuật, trong tương quan dân gian - dân tộc, nhưng đã có những bước tiến khá dài để tạo ra tương quan mới: dân gian - dân tộc - hiện đại. Chính nhờ vậy, lục bát đã không bị cạn kiệt và loay hoay như một số thể thơ khác, trái lại, nó có sức sống trường cửu đến ngày nay. Và thực tế, ngày càng có nhiều người làm thơ lục bát hay, tạo thành đội ngũ kế tiếp qua các cuộc thi thơ nói chung và cuộc thi thơ lục bát nói riêng.
Đỗ Thành Đồng là một trong nhiều tác giả làm thơ lục bát thành công như thế. Qua lục bát, anh đã góp phần làm nên phong cách tác giả và nghệ thuật ngôn từ một cách đa dạng, mới mẻ. Theo các nhà lý luận thuộc trường phái hình thức luận Nga, thì một trong những quan tâm đặc biệt của họ là thể loại, vì theo họ, thể loại là phương diện để người nghệ sĩ thể hiện những thủ pháp nghệ thuật biệt tài của mình, đặc biệt là thơ. Thơ được xem là thể loại thể hiện sự “bạo động có tổ chức đối với những lời nói thường ngày” một cách thi pháp hấp dẫn nhất. Chúng tôi dựa vào định hướng này của các nhà hình thức luận Nga để nghiên cứu lục bát của Đỗ Thành Đồng từ đặc trưng thể loại.
Sự thống nhất mà đa dạng, biến ảo ở từng bài thơ lục bát Đỗ Thành Đồng chính là nằm trong hệ thống chỉnh thể của tư duy thể loại mà tác giả làm chủ, biến ảo, luôn phá và thay để nó không cũ trước lục bát quá khứ, cũng như không nhàm chán trước các trạng thái tình cảm và nỗi niềm nhân thế của thời hiện đại. Thành công có tính căn nền của anh là xuất phát từ sự ý thức về mình, về cuộc đời và về thơ một cách cụ thể: “câu thơ ta cứ đi tìm/ tiếng chuông trên núi tiếng chim ngoài đồng/ đời thì sấp ngửa mênh mông/ có nghe được mất tiếng lòng mưa ơi” (Gọi mưa). Anh gom nhặt từ cuộc sống những gì khiêm nhường, nhỏ bé nhưng chúng mang hồn sự sống để những câu thơ đẹp và tự do như hoa cỏ bên đường: “còn tôi kẻ đứng ven đường/ nhặt từng viên sỏi khiêm nhường cho thơ/ vẫn nhìn ngọn cỏ mà mơ/ một mai gió thổi đến bờ tự do” (Mơ). Và để thơ là giọt lệ và ngọn đèn chạm vào những thờ ơ, nguội lạnh của con người:
Những mơ ước cho mình và cho thơ như thế bảo sao hồn thơ Đỗ Thành Đồng không nặng sâu ân nghĩa với tha nhân và cuộc đời: “thương nhau cứ bát nước đầy/ đừng khen cho chết mà lầy lội thơ”. Làm được câu thơ hay và ý nghĩa cho đời phải trải qua bao gian nan, khổ ải như trời đày, chứ không phải giả tạo và dễ dãi: “dù ai có trải đường hoa/ thì thơ cũng phải đi qua trời đày” (Trời đày). Tất cả suy nghĩ và triết lý về thơ của Đỗ Thành Đồng không bao giờ to tiếng và hời hợt. Anh đúc kết thành quan niệm thi ca riêng của anh trong bài thơ Ai điếu rất thâm trầm và thao thức:
Với Đỗ Thành Đồng, thơ không chỉ là thơ, mà thơ còn là một nhân vật, thơ là quan niệm nhân sinh, phản ánh nhân tình thế thái. Nhờ ý thức sáng rõ về việc làm thơ như thế mà Lục bát đời của Đỗ Thành Đồng nặng sâu ân tình và ân nghĩa, tạo thành mỹ học nhân văn giàu tính chiêm nghiệm và triết lý sâu sắc, bất ngờ.
Những quan niệm được nói bằng thơ như trên không riêng gì cho tập thơ này mà chính là quan niệm chung cho suốt hành trình sáng tạo của anh. Phóng chiếu vào tập Lục bát đời, ta sẽ thấy một Đỗ Thành Đồng luôn thao thức với cuộc đời và thơ để tạo nên những thi phẩm hay, mang hồn sự sống thật (la vie vraie) xuất phát từ kinh nghiệm sống qua (l’expérience vécue) của chính người thơ: “câu thơ từ thuở nằm nôi/ lớn lên cùng những khóc cười bể dâu/ trái tim nắng dãi mưa dầu/ cứ yêu đến tận đất nâu mỗi ngày” (Cứ yêu). Còn gì cao quý và vinh hạnh cho thơ hơn thế! Ngồi tựa vào vách đêm lặng nghe từng âm thanh cuộc sống để hiểu đời dâu bể là trạng thái khát khao có thực của Đỗ Thành Đồng: “Đêm đừng ngắn thế đêm ơi/ ta nghe chưa khẳm tiếng người với nhau/ nghe chưa hết những thương đau/ kiếp này nói với kiếp sau những gì”. Lắng nghe cả những bước đi của thiên nhiên, vũ trụ để biết yêu thương và níu giữ lời thì thầm của sương, sự xôn xao, non tơ của cỏ và lời tình tự của sỏi đá ven đường đang đánh thức nhà thơ những gì đồng nghĩa với khát vọng sống cao đẹp:
Cái nhìn nhân đạo trong thơ Đỗ Thành Đồng chính là biết yêu quý thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên để hiểu lòng mình và vươn lên điều bình hoàn cảnh trong cùng một nhịp đập xanh sinh thái: “ầu ơ non nước điệp trùng/ vín vào nhau để bước cùng xuân xanh/ ngày mai cửa gió trong lành/ môi thơm nào cũng nở thành hạt yêu” (Hạt xuân). Thiên nhiên và con người cứ thế giao hoà, giao cảm mà ở đó con người là chủ thể nhận thức một cách khách quan về mối quan hệ tương sinh, tương ái này: “tôi cầm hạt nắng hạt mưa/ đất trời ban tặng cũng vừa hôm nay/ tự mình ngẫm nghĩ mới hay/ thiên nhiên cũng chịu đắng cay vì người” (Mới hay). Anh thao thức trong đêm để hiểu mình và từ đó vọng về những gì thiêng liêng và nguồn cội:
Như tên gọi Lục bát đời, Đỗ Thành Đồng luôn hướng về tha nhân và khách thể trong sự liên hệ, đối chiếu với từng quan hệ bản chất và quan hệ tương tác để truy tìm ý nghĩa của sự vật, hiện tượng và nhân sinh: “cõi người được mấy nẻo vui/ còn gieo chi nữa ngậm ngùi cho nhau/ tóc đời trắng được mấy lau/ mưa kiếp trước bão kiếp sau lạ gì“. Vì vậy mà có lúc người thơ không tránh khỏi ưu tư, âu lo và nghi vấn - những tình cảm mang cảm thức hiện sinh của con người hiện đại. Anh buông xuôi không phải để vô vi mà là để trầm tư trước nhân tình, thế thái:
Thơ Đỗ Thành Đồng xuất hiện liên tiếp những trạng thái bất an của con người, cả thiên nhiên và những sinh thể trong vũ trụ. Những lúc như vậy, thiên nhiên liền xuất hiện và cần cho con người hơn là cần cho chính nó: “ta ngồi buồn nửa cơn mưa/ mới hay là nắng vẫn chưa tắt dần/ có gì như tiếng chuông ngân/ lúc xa xăm tỉnh lúc vần vũ say/ trước thềm ai đó xòe tay/ trắng phau số phận rủi may trước thềm/ nào ai hái nụ cười đêm/ nhẹ tay một chút cho mềm mại mưa”. Vậy là dù gì, nhà thơ vẫn phải đi bên cạnh cuộc đời và chấp nhận nỗi buồn để vượt qua chính nỗi buồn, tiếp tục ước mơ, thanh lọc:
Và dẫu: “thế gian mấy nẻo nhân tình/ chữ buông chưa tụng lời kinh thở dài” thì vẫn còn có thơ là phương tiện để anh truy tìm bản thể, để tin yêu và hy vọng: “xin nhờ tạm ánh ban mai/ tìm câu thơ gõ một vài hồi chuông“ (Buông). Thơ Đỗ Thành Đồng nhiều xa xót và không kém phần cay đắng, nhưng bao giờ anh cũng nỗ lực vượt qua những trái ngang bằng cơ chế của tâm lý tự vệ rất tích cực và nhân ái: “mong gì đến được ngày xưa/ tôi và anh lấp cho vừa vặn đêm/ mỗi người một bóng tối riêng/ yêu thương ngắn lại nỗi niềm dài ra” (Đêm riêng). Đường chân trời và khát vọng tự do vẫn luôn tươi xanh như lá và mênh mông như bầu trời sẽ hiện ra sau giấc mơ cỏ hát:
Đỗ Thành Đồng luôn từ mình để nhìn ra tha nhân, từ đó thức nhận mọi trạng thái của đời sống. Cái nhìn tương phản và đối lập được anh soi xét ở mọi góc độ và quan hệ, mọi không gian và thời gian: “Trăm năm trong cõi người khen/ Chữ tâm lần giở trước đèn chẳng ra!” (Ca dao). Anh thấy được cả sự đối lập của các sinh thể trong không gian: “Trên cành nát cũng là hoa/ Đã rơi xuống đất là ra rác liền” (Cuối cùng). Thời gian là thực chứng cho những đảo điên, đen trắng của những ai lọc lừa, giả dối: “ta bà sấp ngửa rất nhanh/ sáng còn trộm cướp tối thành chân tu“. Trước những sấp ngửa và thay đổi ấy, mỗi chủ thể phải nhận ra để bình tĩnh lựa chọn hành vi đạo đức của mình trước cõi u u minh minh và sự vô thường của tạo hoá: “cuối cùng hai chữ sắc không/ vô thường ai biết giữa mông mênh người“ (Đừng buồn). Tất cả những rạn vỡ và đổ vỡ niềm tin ấy được Đỗ Thành Đồng nhận ra và đúc kết thành kinh nghiệm quan hệ sống rất bất ngờ: “Đêm như một vệt sao sa/ tôi dài anh ngắn vẫn là đêm thôi/ / đêm anh đã rạng sáng rồi/ làm sao biết được đêm tôi mịt mùng/ / đêm anh mưa gió mông lung/ còn đêm tôi hạn hán tung bụi trời/ / đêm anh thừa mứa nụ cười/ đêm tôi chắp vá cả lời đong đưa/ / mong gì đến được ngày xưa/ tôi và anh lấp cho vừa vặn đêm/ / mỗi người một bóng tối riêng/ yêu thương ngắn lại nỗi niềm dài ra” (Đêm riêng). Đêm là thời gian yên tĩnh, giúp mỗi chủ thể thức nhận và bừng ngộ những gì bản chất nhất của lẽ tồn sinh: “Đêm không phải để ngủ đâu/ mà đêm chỉ để cho đầu bạc thôi/ trắng đen từng khép mắt rồi/ thừa nhau ta cũng như hồi thiếu nhau” (Cảm ơn đêm). Những đúc kết và chiêm nghiệm ấy phải nói là tinh tế và sâu sắc, chúng có khả năng kéo dài ra trong âu lo và bất an của con người trong xã hội hiện đại, giúp họ phân biệt được trắng - đen và trong - đục để lựa chọn cách sống tốt đẹp theo phán đoán đúng. Vì vậy mà trong Lục bát đời xuất hiện phức cảm có thật trong cấu trúc tâm thần bộ (psychisme) của anh. Đầu tiên, đó là mặc cảm khuyết/ thiếu mà anh quan sát từ chung quanh, khiến anh phải phủ nhận bằng tâm lý tự vệ để tạm thời xua đi nỗi buồn:
Biết buồn, nhưng vẫn kiêu hãnh làm người tử tế, chối bỏ nỗi buồn để được tin yêu là cái nhìn phản biện đầy tính nhân bản của Đỗ Thành Đồng: “chúng mình cứ uống cho say/ con chuồn chuồn ớt thì cay nỗi gì/ có buồn nhỏ lệ vào li/ rồi ta cứ uống cạn vì ta thôi” (Cảm ơn đêm). Từ mặc cảm khuyết, thiếu như trên, trong thơ Đỗ Thành Đồng xuất hiện mặc cảm nghi vấn. Thơ anh xuất hiện nhiều câu hỏi có tính song song về cấu trúc nhân cách: tốt - xấu, trắng - đen, chân thành - giả dối, nhân ái - độc ác... luôn được đặt cạnh nhau để làm nổi bật tính hai mặt của mỗi tính chất. Anh bình tĩnh nhìn vào tha nhân để điểm mặt từng trạng thái đạo đức của người đời: “Tôi ngồi điểm mặt với mình/ bao nhiêu thế thái nhân tình đi qua”. Anh tự hỏi và trình bày những hiện thực đối lập đó của nhân tình thế thái. Và câu trả lời, anh dành cho người đọc phán quyết. Bài thơ Điểm mặt là chuỗi những câu hỏi đối lập day dứt như thế:
Cuối cùng, anh nhận ra tiền đề và phản đề của mọi trạng thái nhân cách. Sự thao thức của anh ít ra cũng giúp thế gian hiểu được quy luật của cuộc sống để mỗi người tự lựa chọn hành vi đạo đức của mình: “vô công điểm mặt xong rồi/ thấy đường phía trước lõm lồi nhân gian” (Điểm mặt). Vì vậy mà anh tiếp tục hỏi để truy tìm bản thể của mỗi sự vật, hiện tượng: “đầu năm hỏi nhẹ cơn đau/ bao giờ nhân thế lại giàu nghĩa nhân/ để người lột mặt nạ xuân/ để câu thơ cũ hết sân hận đời”. Hỏi nay để tiếc nuối xưa, hỏi để tin yêu và mong ước, hỏi để giả định và khẳng định về những điều đang tồn tại và sẽ tồn tại:
Thơ Đỗ Thành Đồng luôn ưu tư về những câu hỏi gấp gáp và bất an như thế! Các giác quan trong anh được huy động tối đa. Anh cảm nhận và thức nhận mọi đối tượng - cả khách thể và chủ thể đều bằng thị giác, cảm giác, cả xúc giác và thính giác để phát giác và phát hiện sự hiện hữu và đổi thay của chúng trong từng quan hệ sinh thái và chính thơ là phương tiện để anh trần tình, giao cảm: “Nửa đêm tỉnh giấc cồn cào/ tìm hoài chỉ thấy mỗi sao trên trời/ hớp vài ngọn gió cầm hơi/ nhấm câu thơ cũ với người xa xưa”. Cảm giác đói trong anh cũng bất ngờ và xao động. Đói từ cảm giác nội tâm, anh nhìn ra cái đói của ngoại giới: “trời giờ đang đói cơn mưa/ đất giờ đói cả sông thưa hồ dày/ biển giờ đói cả cát bay/ rừng giờ biết đói cả cây đại ngàn”. Cứ thế, anh phát hiện ra mọi hiện tượng và bản chất của sự đói trong thế gian: “ruộng đồng đói cánh cò ngang/ nước sông đói cá phố làng đói trăng/ tre già đói những mầm măng/ chợ hoa đói nụ nở bằng tự nhiên”. Anh tả rất hay về sự đói của môi sinh và nhân tình thế thái; sự đói hiện ra từ tính chất đến định lượng trong không gian và thời gian:
Và đây là dạng biến thể của sự đói mà Đỗ Thành Đồng cũng đau xót phát hiện ra từ môi trường sinh thái thiên nhiên và sinh thái đạo đức xã hội mà anh gọi là trạng thái hoang/ rỗng để nói lên sự hoang hoá, trống rỗng, không được chăm sóc, không được khai thác, sự vô cảm và xáo trộn trật tự của đối tượng: “đồng hoang hoang cả màu xanh/ dăm ba ngọn súng chẳng thành nổi hoa/ thuyền tình ai có lướt qua/ không là cổ tích cũng là đồng dao”. Đó là sự thực xa xót của cảnh vật và lòng người:
Từ những phức cảm như trên, Đỗ Thành Đồng bất giác nhận ra sự thờ ơ và sự lỗi lầm, mắc nợ cuộc đời của chính mình và tha nhân: “nợ làng một tiếng chuông ngân/ bến sông nợ một trái bần chát chua/ nợ đồng cẳng cáy càng cua/ nợ người một nửa lá bùa xa xăm/ tôi còn mắc nợ trăng rằm/ một đêm lén cởi gió nằm bờ đê/ nợ nhau một lối đi về/ mo măng chưa rụng lá tre đã vàng”. Nợ cả mọi sinh thể và mọi sinh vật trong thế giới tự nhiên. Và nợ cả trách nhiệm sáng tạo thi ca của mình:
Từ nợ, nhà thơ ý thức về việc làm và hành vi của mình trong hiện tại và tương lai để tạ lỗi và sám hối: “Nếu mai nắng tắt trên nguồn/ thì ta về biển trải buồn ra phơi/ dã tràng xe cát mà chơi/ đợi cơn áp thấp làm người tri âm/ nếu mai sóng biển lặng câm/ ta lên núi đá gõ tâm trạng mình/ lấy lời gió dệt câu kinh/ mượn mây lót lối cho tình nhân lên” (Nếu mai). Ý thức về mình là ý thức về những gì rộng lớn hơn, có liên quan đến tâm linh, nước non và vũ trụ: “nước non như tấm lụa mềm/ mặc ai áo gấm đi đêm cũng đành/ trời xanh cái mộng cũng xanh/ tay chưa kịp vỗ đã canh cánh sầu/ tiếng gà đứt quãng từng câu/ tôi nghe hương khói dãi dầu xa xăm” (Thôi rồi). Dẫu những lầm lỡ ấy là điều không tránh khỏi ở cõi trần ai này, thì mỗi người phải gánh chịu một kiểu khác nhau, nhưng đều có chung một khát vọng là được sống tốt, sống nhân ái, tự do:
Và Đỗ Thành Đồng đã chạm đến đích của sự viên thành khi lãng du cùng cuộc sống nhân sinh và mỹ học thi ca để tu thân và tu ngôn cho kiếp thi nhân: “thi nhân là kiếp lãng du/ ôm đồm nhân thế mà tu tỉnh mình” (Kiếp thi nhân). Từ đó, anh sáng tạo ra những thi phẩm hay cho đời và cho thi ca.
***
Trở lên, chúng tôi phóng lướt tìm hiểu về tư tưởng và triết mỹ lục bát của Đỗ Thành Đồng. Rất tiếc là do khuôn khổ của một bài viết ngắn, chúng tôi chưa phân tích được vẻ đẹp hình thức để chỉ ra giá trị chỉnh thể của Lục bát đời mà bằng tài nghệ và sự làm chủ thể loại, anh đã thành công trong việc thể hiện các yếu tố: ngôn từ, nhịp điệu, nhạc tính, biểu tượng, các biện pháp tu từ… một cách nghệ thuật. Chỉ riêng về mặt cấu trúc câu thơ và cấu tạo vần thơ, anh đã ý thức và thành công trong việc để ý tưởng và ý nghĩa câu thơ được nội cảm trực tiếp trong cảm nhận của người đọc nên anh không xuống dòng, không bậc thang theo hình thức làm dáng của trò chơi ngôn ngữ vô lối mà một số nhà thơ trẻ thường thể hiện. Còn việc gieo vần, Đỗ Thành Đồng đã tuân thủ một cách chuẩn xác khuôn vần lục bát theo luật ngữ âm tiếng Việt. Toàn bộ tập thơ đều gieo vần đúng khuôn thức của hình thang nguyên âm (nguyên âm dòng trước, dòng giữa và dòng sau) theo luật bằng - trắc một cách nhịp nhàng, mượt mà, tạo hiệu quả trực tiếp cho người tiếp nhận. Điều đó chứng tỏ tài nghệ về thi luật lục bát của tác giả.
Với những gì vừa tìm hiểu, rõ ràng không nghi ngờ gì khi gắn cho lục bát của Đỗ Thành Đông phẩm tính triết mỹ - nghệ thuật - văn hoá - hiện đại, làm nên gương mặt thơ sáng giá với phong cách mới lạ trên hành trình lục bát hiện đại và đương đại Việt Nam.
Vỹ Dạ - Huế, 7/ 2025
H . T . H
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
BA BÀ CỤ Ở CUỐI XÓM
ĐỨA BÉ
ĐỌC THƠ CÙNG NHAU
Khi cái đẹp còn đang ngủ yên
GIỮA NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN
THƯƠNG NHAU NGÀY TẾT
CHI HỘI 3 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔNG KẾT CT NĂM 2025
CHÂN MÂY (1)
NHẠC SĨ ĐOÀN BỔNG ĐÃ ĐI VỀ DÒNG SÔNG ẤY…
CUỘC THI tìm hiểu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII,
Đông vui như chợ quê ngày Tết
Mẹ tôi và những vật dụng nhà nông xưa cũ
Chờ đợi
Mùa này cải đã ra hoa
Phố mùa đông thơm lừng hương ngô nếp nướng