Thơ Quang Hoài và lời bình…

Thứ tư - 15/04/2026 20:27
 

Quang Hoài

KIẾP NÀY TA CHỬA THƯƠNG TA

Ta thương một ngày dở mưa
Một ngày dở nắng như chưa bao giờ...

Ta thương một đêm hững hờ
Một đêm rét giả ấm vờ một đêm...

Mưa hay lá rụng ngoài thềm
Sương hay giọt nắng phơi trên chái nhà?

Kiếp này ta chửa thương ta
Làm sao thương nổi kiếp hoa bọt bèo!


Huế, 8-1999



TƯỞNG CÂU THƠ ĐẨY MÁI CHÈO

I.

Tôi ngồi hát với dòng sông
Hát con thuyền với mênh mông con thuyền
Dòng sông nước xuống nước lên
Con thuyền trôi với con thuyền nằm im

Một đời rong ruổi lần tìm
Vẫn tìm chẳng thấy con thuyền mình mong...

II.

Tôi ngồi khóc với dòng sông
Khóc con thuyền đậu giữa dòng lênh đênh
Thuyền sao mãi đứng một mình
Hay còn lo thác ngại ghềnh cheo leo?

Tưởng câu thơ đẩy mái chèo
Nào ngờ gió thổi bay vèo xuống sông!...

III.

Câu thơ hong nắng vàng ong
Tôi ngồi thấp thỏm cầu mong lòng Trời
Tơ tình giăng mắc khắp nơi
Làm sao cầu được lòng Trời hở thơ?

Biết Trời thương mà chưa cho
Thì tôi chả vớt câu thơ ướt đầm...


8-2003



VỠ SÁNG

Ta ngỡ đã đêm là tối, đã ngày là sáng
Đâu biết nắng ngày ủ mật đêm đen...

Bỗng một đêm lòng ta vỡ sáng
Sáng loang ra xoá sạch ánh nhìn!



SẸO HOÀNG HÔN

Người tự ra đi khỏi ta
Một chiều hồ giông bão
Lâu đài huyền ảo
Trong ta giờ đáy đỏ ngầu!

Lẽ nào tàn lụi trong nhau
Những hoàng hôn bờ môi sóng ấm
Ban mai lấp ló chân trời?

Lẽ nào mọi đắp bồi
Chỉ để khâm liệm một trượt trôi
Mênh mang hồ ngày ấy mưa rơi?

Chiều cuối năm rét ngọt
Ta trở lại bên hồ
Sóng quấn sóng vỗ bờ
Vỗ chỗ ta ngồi còn hằn hình vết sẹo...

Con sóng nào vỗ nhoà
Sẹo hoàng hôn trong ta?


Đầu năm Canh Tý – 2020

 


MỖI NGÀY TÔI LẠI MỘT TÔI

Mỗi ngày tôi lại một tôi
Lá bay về cội, vườn tươi tốt vườn
Chim mẹ mớm mồi chim con
Cành la, cành bổng véo von nụ chồi...

Mỗi ngày tôi lại một tôi
Một miền tôi với một người tôi yêu
Nắng liêu xiêu, gió liêu xiêu
Lửng chiều sà một cánh diều thoát dây!...


Q. H

h



Lời bình của Nhà thơ Nguyễn Lâm Cẩn

        QUANG HOÀI - NHỮNG LÁT CẮT KHẢO CỔ CỦA TÂM HỒN

          Đọc chùm thơ của Quang Hoài ta không chỉ thấy một hồn thơ đa mang mà còn bắt gặp một hành trình giải phẫu tâm hồn đầy đau đớn và thức tỉnh. Qua lăng kính của một người đi tìm cái "hồn trong chữ", ta nhận ra chùm thơ này là một đồ hình về sự hư ảo, nơi thi sĩ dùng những biểu tượng cổ điển để mã hóa những bi kịch hiện sinh của con người hiện đại.


Sự hoài nghi vào thực tại và nỗi đau bản thể
​Tầng "ẩn dụ" đầu tiên và cũng là nền tảng tư tưởng của Quang Hoài chính là sự hoài nghi vào thực tại. Ông không nhìn thế giới bằng sự tròn đầy mà bằng sự "dở dang" và "giả trá". Những chữ "dở" (dở mưa, dở nắng) và "vờ" (rét giả, ấm vờ) không đơn thuần mô tả thời tiết. Đó là một ẩn dụ sắc sảo về một thế giới mà các giá trị bị đánh tráo. Sống trong một hiện thực mà ngay cả nỗi đau (cái rét) và sự vỗ về (cái ấm) cũng là những mặt nạ. Con người rơi vào trạng thái lưu đày ngay trong chính cảm quan của mình.
​Từ đó dẫn đến một sự khước từ tự ngã đầy cay đắng. Khi thi sĩ viết: "Kiếp này ta chửa thương ta", đó là một lời tự thú đau xót. Làm sao có thể thương một bản thể đang bị vây khốn bởi những điều giả tạo? Sự "chửa thương" ấy chính là một nỗ lực giữ mình tinh khiết, một sự từ chối đồng lõa với một kiếp sống "bọt bèo", vay mượn. Ở đây, ta còn thấy một nghịch lý nhân quả. Thông thường người ta phải thương mình rồi mới thương đời, nhưng với Quang Hoài, chính vì thấu cái kiếp hoa bọt bèo quá đỗi phù du mà việc "thương mình" bỗng trở nên bất khả. Sự từ chối thương mình ấy xét đến cùng lại là đỉnh điểm của một lòng trắc ẩn mênh mông dành cho vạn vật.


Con thuyền, dòng sông và bi kịch trí thức
​Quang Hoài đã dựng lên một ẩn dụ "tàn nhẫn" về vai trò của trí thức và nghệ thuật trước dòng thác cuộc đời qua hình ảnh con thuyền và dòng sông. Đó là sự bất lực của tư tưởng. Câu thơ vốn là biểu tượng của trí tuệ, là "mái chèo" đưa người qua bến mê lại bị gió thổi "bay vèo xuống sông". Chữ "vèo" mang sức nặng của sự phũ phàng, ám chỉ sự yếu ớt của các giá trị tinh thần trước những thế lực vô hình của định mệnh.

​Trong cõi mênh mông ấy, ta thấy một sự chia tách của bản thể: "Con thuyền trôi với con thuyền nằm im". Có một cái "tôi" đang dạt trôi theo dòng đời và một cái "tôi" đứng ngoài lặng lẽ quan sát sự trôi dạt đó. Nhưng thi sĩ đã chọn một thái độ khắc kỷ trước định mệnh. Hành động không vớt "câu thơ ướt đầm" là một ẩn ý về sự chấp nhận. Thi sĩ chọn cách để nỗi đau và niềm tin tan vào dòng nước thay vì cố gắng vớt vát một hy vọng đã lỡ làng. Đó là sự kiêu hãnh của kẻ sĩ. Thà để câu thơ chìm trong sự thật còn hơn cầm một mái chèo đã gãy để lừa dối bản thân.


Hành trình giải ảo và những vết hằn ký ức
​Càng về sau, hành trình thơ Quang Hoài càng chuyển từ sự hoài nghi sang sự giải ảo quyết liệt. Trong bài Vỡ sáng, ông đưa ra một nhận định kinh ngạc: "Đâu biết nắng ngày ủ mật đêm đen". Cái ác và cái tối tăm thường ẩn nấp dưới những hào nhoáng ban ngày. Khi lòng "vỡ sáng", đó không phải là một sự soi rọi êm ái mà là một cú chấn động làm "xóa sạch ánh nhìn" cũ kỹ, buộc con người phải nhìn đời bằng một đôi mắt khác, đôi mắt của kẻ đã thấu thị hư vô.
Hình ảnh "Sẹo hoàng hôn" hiện lên như một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Hoàng hôn vốn tan biến, nhưng trong thơ ông, nó để lại "sẹo". Vết sẹo hằn lên chỗ ngồi bên bờ hồ chính là chứng tích của những đứt gãy trong tâm hồn. Nếu hoàng hôn là khoảnh khắc thì vết sẹo là vĩnh cửu. Thi sĩ đã "hóa thạch" nỗi đau, khẳng định con người là tổng hòa của những vết thương đã hóa thạch. Thời gian có thể vỗ nhòa tất cả nhưng không bao giờ xóa được những "vết hằn" của ký ức.


Bản tuyên ngôn về sự tự do minh triết
​Chùm thơ khép lại như bản tuyên ngôn của một cái tôi cô độc nhưng minh triết. Quang Hoài nhìn nhận thế giới như một mê cung, nhưng ông không chọn cách lánh đời. Tư tưởng cốt lõi là sự tự thanh tẩy hằng ngày: "Mỗi ngày tôi lại một tôi".
​Sau bao nhiêu dông bão và "sẹo hoàng hôn", thi sĩ đã đạt đến sự lắng kết của thời gian. Nhịp thơ trở nên thanh thản lạ lùng. Cái tôi ấy không còn gồng mình "đẩy mái chèo" nữa mà chọn cách hóa thân vào cỏ cây, chim chóc, tìm thấy sự tự do trong chính định mệnh của mình, một tinh thần tự do của "cánh diều thoát dây". Dẫu không còn phương hướng, nhưng ít nhất đã được thuộc về chính mình.

Quang Hoài đã làm mới những thi liệu cũ bằng cách nạp vào đó những xung năng hiện đại. Ông không miêu tả ngoại giới mà dùng ngoại giới để vẽ nên đồ hình nội tâm. Việc sử dụng các tính từ đầy bất an như "dở", "vờ", "giả", "liêu xiêu" tạo nên một từ trường cảm xúc mạnh mẽ. Thơ ông mang đậm phong vị phương Đông nhưng tư duy lại tiệm cận với chủ nghĩa hiện sinh. Đó là tiếng nói của một kiếp nhân sinh đầy vết sẹo nhưng vẫn kiên cường trong nỗ lực tìm lại chính mình, một tâm hồn luôn tự làm mới mình để giữ lấy phần tinh khiết nhất giữa cõi phù hoa.

Hà Nội, 11-4-2026
N. L. C

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây