Nhà thơ PhạmThị Hồng Thu
B ạn đã đi bản Phùng ở Hoàng Su Phì, Hà Giang (tên cũ) chưa? Con đường bê tông be bé chon von, quanh co bên sườn núi, dưới là vực thăm thẳm. Xe leo lên núi như đang leo lên đỉnh trời. Đường đi bản Phùng chỉ phù hợp với những người mạnh mẽ, dám thử thách độ cao, không sợ nguy hiểm. Nhưng đường đến bản Huồi Xui, bản Khe Linh ở xã Keng Đu, Nghệ An còn khó khăn gấp nhiều lần.
Từ quốc lộ 7A đường đi cửa khẩu Nậm Cắn, sang Lào, thuộc huyện Kỳ Sơn cũ, tỉnh Nghệ An, vào xã Keng Đu - một xã giáp biên giới Lào là 42 km nhưng xe phải chạy mất 2,5 đến 3 tiếng đồng hồ. Trước đây là đường đất nhỏ, khi mùa mưa đến, bộ đội biên phòng và dân bản muốn mang gạo, hàng hóa về chỉ còn cách duy nhất là gùi. Nay, con đường đã được rải nhựa nhưng còn hẹp, ít lan can bảo vệ, nhiều đoạn nhựa đã hỏng chỉ còn trơ đất đá, lồi lõm ổ trâu, ổ voi, xe chạy bị kẹt gầm, phải nhờ dân bản lấp bớt hõm sâu mới đi được. Đặc biệt xã này toàn núi cao, trùng trùng điệp điệp, thuộc phía đông của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Đường quanh co bên sườn núi, hết quả núi này đến ngọn núi kia. Rõ ràng thấy con đường trước mắt mà đi mãi chưa đến. Còn vực ở đây thì quá sâu, không thể thấy đáy. Mấy đợt bão lũ năm 2025 làm cho nhiều đoạn đường sạt lở, nửa đường rơi xuống vực, xe qua mà thót tim.

Tác giả cùng các em nhỏ ở Bản

Keng Đu và những phần quà ngày tết của Đoàn thiện nguyện Áo ấm mùa Đông
Đoạn đường 42 km vào xã còn đỡ, còn từ Ủy ban xã xuống các bản toàn là đường đất. Ôi chao, đá và đá, ổ trâu và ổ voi tiếp tiếp nhau. Chỉ khoảng 8 km đến bản Huồi Xui và khoảng 9 km đến bản Khe Linh mà xe ô tô phải đi hết khoảng tiếng đồng hồ. Đi trên những con đường này phải là xe tải chuyên dụng, bà con gọi là xe hoa mai. Cái tên nghe thật mỹ miều, nhưng xe trùng trục như con trâu sắt. Nhìn đường be bé, lồi lõm, một bên là núi dựng đứng, một bên là vực hun hút, thật hãi, vừa đi vừa khấn Phật. Có lẽ một đời tôi đi với Đoàn thiện nguyện Áo ấm mùa đông đến đây một lần, còn cậu tài xế ngày 4 lượt chạy trên con đường này, còn bà con dân bản cũng hàng ngày qua lại trên đường này. Thật sự cảm phục họ vô cùng. Có lẽ họ đã quen và không quen cũng không được, cuộc sống đã tạo cho họ ý chí mạnh mẽ như núi, như sông ở đây vậy.
Xã Keng Đu có 9 bản thì 8 bản là người Khơ Mú, một bản là người Thái. Tất cả đều nghèo khổ. Ở đây quá ít thung lũng, quá ít ruộng bậc thang, toàn núi dựng ngược. Vậy dân sống bằng gì? Họ sống bằng ngô và lúa, trồng mỗi năm một vụ trên sườn núi. Để có nhiều ngô, lúa người dân phải phát nhiều núi để trồng. Giá ngô hạt khô bán chỉ dăm ngàn đồng một cân, họ phải phát bao nhiêu cây, phá bao nhiêu rừng, trồng bao nhiêu sườn núi mới đủ gạo để ăn trong năm? Chưa nói đến các khoản chi tiêu khác. Mà núi dốc ngược thế kia, năm nào cũng trồng thì đâu còn dưỡng chất. Đất cỗi cằn, ngô còi cọc, nghèo khổ cứ mãi quẩn quanh. Thỉnh thoảng có các đoàn thiện nguyện đến giúp nhưng cũng như muối đổ biển.
Đảng và nhà nước đã dành nhiều ưu tiên cho Keng Đu. Các bản đều có trường mẫu giáo. Xã đã có trường Tiểu học và THCS nội trú. Các con được ăn ở tại trường, bà con đã yên tâm. Xã đang xây trường Nội trú liên cấp khang trang hơn, đầu tư cho các con cái chữ từ bé, mong các con nên người để xây dựng quê hương. Chính quyền cũng đã lo giống ngô có năng suất hơn, lo cây dược liệu cho bà con trồng để cải thiện cuộc sống. Điện đã về đến từng nhà, đã có sóng điện thoại. Nhìn chung, so với trước đây, Keng Đu đang thay da đổi thịt. Hai bên đường ở bản gần trung tâm xã đã có những nhà sàn dân mới làm bằng gỗ vàng bóng. Nhưng số hộ ấy còn quá ít.
Dãy núi bên kia bản Huồi Xui là nước bạn Lào, thuộc tỉnh Xiêng Khoảng nơi có Cánh Đồng Chum huyền thoại. Còn dãy núi gần bản Khe Linh là cực Tây của tỉnh Nghệ An, giáp Lào. Hai nước cách nhau con sông Nậm Nơn nằm dưới vực sâu. Người dân bên ấy còn khổ hơn bên mình, nghe các chú bộ đội biên phòng kể, ngày tết nhà nào may mắn có hai con chuột để thịt và gói mì tôm là sang lắm.
Khí hậu ở Keng Đu một ngày bốn mùa rõ rệt, buổi trưa nắng nóng như giữa hè, còn buổi tối thì gió và rét như đại hàn. Chúng tôi mới đi hai bản, còn nhiều bản xa hơn, núi cao hơn, vực sâu hơn, sạt lở nhiều hơn, khó khăn hơn, chúng tôi chưa đến được.
Người Keng Đu bao đời vẫn sống ở đây. Họ thực sự kiên cường, vững chãi. Người Khơ Mú da săn chắc hơn màu đất, ánh mắt lấp lánh hơn giọt sương mai dưới ánh mặt trời. Họ sống chân chất, thiện lành như đất. Con gái Khơ Mú rất xinh, nhìn em nào cũng đáng yêu. Có những em gái cõng con mà cứ ngỡ cõng em. Cái nghèo, cái khổ kéo theo cái lạc hậu.
Ở Keng Đu, địa hình như thế, khí hậu như thế, giao thông như thế, người Keng Đu đến bao giờ mới thoát nghèo? Không biết bà con có muốn thoát nghèo không hay họ bằng lòng với thực tại? Nhưng rồi chợt nghĩ, ai chẳng muốn giàu sang sung sướng. Ước cho bà con Keng Đu sớm có đường bê tông để về bản, sớm chọn được cây, con phù hợp để thoát nghèo, để bằng anh bằng em. Thương quá là thương, mong quá là mong!
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Chùm thơ của Bùi Văn Kha
Người thương binh đánh Giày
Viết nhân ngày Thương binh - liệt sĩ của các nhà thơ nữ Hà Nội
BÁC HỒ VỚI CÔNG TÁC CHÍNH SÁCH TRONG QUÂN ĐỘI
CHI HỘI 1 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔ CHỨC GIAO LƯU TẠI CÔNG VIÊN ƯỚC
CỎ HÁT - thơ Phạm Thị Hồng Thu và lời bình
Con bò đi chiều thuận
NGƯỜI Ủ TRẤU THẮP "HUYỀN THOẠI LÀNG" trong thơ Nguyễn Văn Thích
A PA CHẢI, MỘT LẦN ĐẾN CẢ ĐỜI THƯƠNG NHỚ
Trang thơ Tháng Bảy của nhiều tác giả
Năm tác giả Thơ (10 )
Dưới bóng cây ô liu
Hương cốm - hồn của làng trong phố mãi nguyên tươi qua thơ Lê Minh Tý
Tầm cao mới của Nhà văn Nguyễn Mạnh Thắng QUA TIỂU THUYẾT “ĐƯỜNG ĐỜI VÀ SỐ PHẬN”
XU HƯỚNG ĐỊNH HÌNH THƠ HIỆN ĐẠI