Từ sự thật lịch sử đến hình tượng nhân vật văn học

Thứ bảy - 08/06/2024 21:28

Tranh ST

Tranh ST
Một số tham luận tại buổi Tọa đàm văn học: "Mối liên hệ giữa sự thật lịch sử và hình tượng văn học" do Hội Nhà văn HN tổ chức 5/6/2024 

           

          Mấy suy nghĩ về sự thật lịch sử và nhân vật văn học
            
            PGS.TS. Vũ Nho

zalo

 

Đây là một vấn đề thú vị và rất quan yếu khi các nhà nghiên cứu và bạn đọc đánh giá tiểu thuyết lịch sử của nhà văn. Những đồng tình hay phản đối dữ dội chính là liên quan đến điều này. Nếu mối quan hệ là thuận, là trung thành thì mọi chuyện êm chèo, mát mái. Vấn đề chỉ còn là tài năng của người viết mà thôi. Nhưng nếu mối quan hệ đó không thuận, có điểm khác hoặc bất thường, thậm chí trái ngược, thì  người viết sẽ bị quy là xuyên tạc, bóp méo lịch sử!

Vấn đề là nhà văn viết tiểu thuyết Lịch sử cũng như các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn đọc đều không sống cùng thời với nhân vật lịch sử. Vậy lấy gì làm bằng cứ, làm thước đo để kết luận  là trung thành hay xuyên tạc, bóp méo?

Hiển nhiên, điều không thể chối cãi là phải lấy sách vở, lấy những tài liệu chính sử, dã sử, lấy những đánh giá của người cùng thời với nhân vật để xem xét. Tưởng thế là đơn giản. Nhưng lại có một rắc rối là trong chính sử hay dã sử chỉ nói vắn tắt; mặt khác, đôi khi lại mâu thuẫn, không thống nhất. Tài liệu A, nhà sử học B thì khen. Cũng nhân vật ấy, sự kiện ấy, tài liệu C, nhà sử học D lại chê vừa phải. Trong khi đó  tài liệu E, nhà sử học F lại chê kịch liệt, chê hết lời!

Vậy thì, cuối cùng, nhà phê bình và bạn đọc phải dùng lí trí của mình mà cân nhắc, suy xét để đi đến kết luận thỏa đáng.

          Chúng ta đều biết nhà văn Nguyễn Công Hoan từng định nghĩa :

"Tiểu thuyết là một truyện bịa y như thật. Nhà tiểu thuyết là người biết bịa truyện" (Ðời Viết Văn Của Tôi, Nguyễn Công Hoan, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1994). Không ai nghi ngờ khả năng “bịa” hay còn gọi theo thuật ngữ văn chương là khả năng “hư cấu” của người viết. Vậy “bịa y như thật” tức là hư cấu một cách nhuần nhuyễn, hợp lí, phù hợp với những gì chính sử, dã sử đã ghi nhận về nhân vật. Nghĩa là bịa, nhưng không làm sai lạc những nét cơ bản của nhân vật được lịch sử và cộng đồng công nhận. Ví dụ nhân vật Trần Quốc Toản được sử sách đánh giá là tuổi nhỏ chí lớn, có khát vọng  đánh giặc ngoại xâm, lập công cứu nước. Khi xây dựng nhân vật này trong “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã sử dụng chi tiết bóp nát quả cam, và chi tiết xông xuống thuyền bày tỏ ý chí quyết đánh. Như thế là thuận, là phù hợp!

          Một vấn đề không thể không nhắc đến là trước đây, trong Lịch sử, trong Văn chương của ta có xu hướng thiêng hóa các  anh hùng dân tộc, các nhận vật Lịch sử có công với nước. Gần đây ở nước ngoài có xu hướng “giải thiêng”. Xu hướng này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ vào nước ta khi chúng ta hội nhập kinh tế và văn hóa với thế giới. “Giải thiêng” là để đưa nhân vật gần gũi với đời thường, gần gũi với mọi người, chứ không phải là “tầm thường hóa”, hoặc “dung tục hóa” nhân vật. Chính vì nhận thức chưa thấu đáo nên có nhà văn đã miêu tả thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân như một con người thô thiển, thiếu lịch sự, văn hóa thấp! Tất nhiên, việc đó đã vấp phải phản ứng dữ dội của công chúng.

          Cũng có những chuyện “Lịch sử không rõ ràng”. Đó là chuyện về vị trạng nguyên khai khoa triều Lý, Thái sư Lê Văn Thịnh. Trong vở chèo “Bài ca giữ nước”, hình ảnh vị Thái Sư được trình bày như là một kẻ có âm mưu liên kết với nhà Tống. Điều đó không chính xác vì chính ngài có công đòi lãnh thổ cho nhà Lý. GS.TS Ngô Ngọc Liễn đã viết một cuốn tiểu thuyết Lịch sử : “Lê Văn Thịnh : Vụ án Thái sư hóa hổ”, Nxb. Hội nhà văn, 2018 để chiêu tuyết cho ông. UBND tỉnh Bắc Ninh cũng xây dựng khu tưởng niệm, đặt tên đường Lê Văn Thịnh để vinh danh ông. ở Sài Gòn cũng có đường Lê Văn Thịnh. Như vậy giữa sự thật lịch sử và nhân vật văn học trong vở chèo và trong Tiểu thuyết có sự vênh lệch.

          Bạn đọc tôn trọng quyền hư cấu của nhà văn. Song nhà văn không vin vào quyền hư cấu, sáng tạo của mình để xây dựng nhân vật theo ý riêng  mình bất chấp sự thật Lịch sử. Có một chuyện không phải nhiều người biết. Khi nhà thơ Đỗ Hoàng in cuốn “ Kiều” hơn 6000 câu thơ lục bát ( Đỗ Hoàng - Kiều thơ, Nxb Hội nhà Văn, 2010), tác giả đã không để cho nhân vật Từ Hải chết đứng như trong “Kim Vân Kiều truyện” hay trong “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du. Đỗ Hoàng để Từ Hải bị bắt sống, Hồ Tôn Hiến đem ra xét xử. Trong phiên tòa đó, Từ Hải tự bào chữa cho mình và vạch trần sự bất tài, kém cỏi của Hồ Tôn Hiến. Đó là một nét mới trong “ Kiều” của Đỗ Hoàng!

          Chúng tôi cho rằng khi viết về nhân vật Quang Trung, vị anh hùng dân tộc chúng ta đã từng biết trong Lịch sử, trong tiểu thuyết “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã “giải thiêng” không đúng cách, nên bị phản ứng dữ dội!

          Nhân nói chuyện không trung thành, ở đây không phải là không trung thành với Lịch sử, mà  là không trung thành với tác phẩm được nhà văn dựa vào. Nguyễn Du đã không trung thành với  nhân vật Thúy Kiều trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Tử để có một nàng Kiều tinh tế, thông minh, bao dung, độ lượng hơn nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Tử. Nàng Kiều của Nguyễn Du biết ơn Thúc Sinh, tạ ơn rất hậu:
          Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân
          Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là
Nàng Kiều của Nguyễn Du không hề đánh một roi nào đối với Hoạn Thư, trong khi nàng Kiều kia  thì : Hoạn Thư bị “lột trần áo xiêm rồi treo cổ lên đánh 100 trượng”. Thúc Sinh  mang về “chạy chữa đến nửa năm trời mới khỏi” (Trang 367 -368.  Phạm Đan Quế -Truyện Kiều đối chiếu, nxb Hải Phòng, 1999). Nàng Kiều của Nguyễn Du tha bổng Hoạn Thư vì lí do bao dung, rộng lượng:
          Tha ra thì cũng may đời
          Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen
          Đã lòng tri quá thì nên
          Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay!
Rõ ràng với mục đích sáng tạo, với hiểu biết tâm lí sâu sắc, Nguyễn Du đã nâng tầm nhân vật của mình!
          Các nhà tiểu thuyết lịch sử, thiết nghĩ cũng cần nâng tầm nhân vật của mình!
          Chúng tôi muốn đề cập đến nhân vật Phạm Thọ Khảo trong 2 cuốn tiểu thuyết Lịch sử của nhà văn Lục Hường là “Nguyên khí ngàn đời” và “Tri kỉ vượt thời gian”. Tài liệu chính sử về vị trạng nguyên triều Mạc rất ít ỏi. Thế nhưng nhà văn đã xây dựng thành công vị trạng nguyên hết lòng vì xã tắc, vì dân. Và người bạn của ngài là Đỗ đại nhân, được dựng thành cặp bài trùng trong “Tri kỉ vượt thời gian”.

          Về phương diện tiếp cận lịch sử theo cách mới, chúng tôi đánh giá cao nhà văn Lê Hoài Nam  trong tiểu thuyết “Cuộc đời xa khuất”. Nhà vua Tự Đức tham gia đối thoại với GS chủ trì Hội thảo. Vua Tự Đức của nhà văn Lê Hoài Nam có quan niệm khá chính xác về chuyện “hư cấu”:

          “…sáng tạo văn chương, tác giả có quyền hư cấu, nhưng viết về một nhân vật có thật đã đi vào Lịch sử thì lại phải rất thận trọng khi hư cấu, hay nói cách khác, chỉ  nên hư cấu những gì không phương hại đến bản chất nhân vật” (trang 196).  Lê Hoài Nam  đã cho vua Tự Đức đọc “Piotr đại đế” của A. Tolstoi trong Khiêm Lăng, rồi để cho Fukuzawa, nhà canh tân Nhật Bản đến thăm Nguyễn Trường Tộ, theo tinh thần hư cấu đó!

          Chính nhà văn Hoàng Quốc Hải, trong tọa đàm về Tiểu thuyết Lịch sử (“Tiểu thuyết lịch sử – những chuyển động” do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức cuối tháng 8/2023) cũng tiết lộ ông đã sáng tạo nhân vật không có trong chính sử. Điều mà nhà văn Hoàng Công Khanh đã viết: “Có một số nhân vật và sự kiện hư cấu hợp “lôgic” theo thủ pháp văn học: “Chòm sao tôn nguyệt” (sao mờ đi cho ánh trăng tỏ sáng hơn) mà Tào Tuyết Cần đã sử dụng trong Hồng Lâu Mộng, với mục đích làm nổi bật nhân vật chính, sự kiện chính. ( Hoàng Công Khanh - Suy ngẫm về bộ Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải - nguồn : https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/bo-tieu-thuyet-bao-tap-trieu-tran-cua-hoang-quoc-hai.html).

          Chúng tôi cũng muốn nói đôi điều về sự hư cấu thành công của nhà thơ Nghiêm Thị Hằng trong  “ Tiếng vọng Hồ Xuân Hương”.

          Điều mới về nhân vật Hồ Xuân Hương trong tiểu thuyết này là việc nàng Xuân Hương đã chạy đôn đáo  để kêu oan cho chồng. Tác giả tiểu thuyết đã cắt nghĩa có sức thuyết phục vì sao Phúc Hiển lại bị kiện. Vì sao đơn kiện không được thẩm tra, xét xử công minh? Vì sao có sự giúp đỡ của Nguyễn Du, nhưng  án Phúc Hiển vẫn không được giảm, mà chỉ được gia ân sống thêm  sáu mươi ngày và được tự xử chết ở quê nhà? Đồng thời người viết cũng đoán định câu thơ “ Cán cân tạo hóa rơi đâu mất” trong bài “Khóc ông phủ Vĩnh Tường” của Hồ Xuân Hương là có ý nói đến việc “trời cao chẳng thấu oan chồng”, không xét xử minh bạch vụ án Trần Phúc Hiển.
          Điều cuối cùng là chúng tôi có đọc bài viết của nhà văn Thụy Khuê viết về nhà văn Trần Vũ. ( Nguồn  http://thuykhue.free.fr/stt1/tranvu.html).
          Nhà phê bình văn học có nêu luận điểm mới :
“Trần Vũ là một trường hợp: Bịa không giống thực và phải nói ngay: anh thành công trong cái "sự bịa đặt hoàn toàn" ấy”.
Nhà  phê bình văn học nêu ví dụ Trần Vũ viết về Nguyễn Huệ:
          "Huệ chỉ nghĩ tới việc giết người để lấy phần của người chết [...] Vai to bè hơn vai tê giác, mặt vuông ván gỗ. Huệ cất tiếng nói. Giọng ồ ề vỡ ra như tiếng thác đổ vào giữa khuya [...] Khạc nhổ, lầm bầm chửi rủa, đóng mạnh rương, rồi trở ra bàn gục mặt vào thau rượu. Huệ uống tới lúc ngủ quên trong thau." (trang 11-26)

Nhà phê bình kết luận: “Trần Vũ dùng chân dung giả tưởng của Ngọc Hân, Nguyễn Huệ để diễn tả một hiện thực không giả: sự bạo tàn trong chiến tranh, trong các nhân vật lịch sử, trong thiên nhiên, vạn vật và con người”.

          Thiết nghĩ đây cũng là điều mà chúng ta cần xem xét thận trọng và kĩ lưỡng. Không thể tùy tiện dựng chân dung giả tưởng, nhất là với người anh hùng dân tộc mà lịch sử và văn chương đã ca ngợi!

 Hà Nội, 24 tháng 5 năm 2024.V.N


 

Sự thật lịch sử và hình tượng văn học

 

      Nhà văn Nguyễn Trọng Tân


73966dfc a724 48a3 8cd0 46e5d1094574
 

  1. SUY NGHĨ NHỎ VỀ SỰ THẬT LỊCH SỬ:

 

        Sự thật lịch sử ở đây được hiểu là nội dung các văn bản chính sử đang lưu hành. Nó là hình ảnh của quá khứ được chính thể cầm quyền công nhận và phổ biến. Tuy nhiên vì rất nhiều lý do “sự thật lịch sử” ấy có hoàn toàn khách quan, phản ánh chính xác những gì đã diễn ra hay không?

        Loài người đã đã qua nhiều chế độ cai trị. Từ Nguyên thủy - Nô lệ - Phong kiến đến Dân chủ Cộng hòa. Ở quốc gia nào cũng vậy, thể chế chính trị nào cũng vậy, lịch sử luôn bị chi phối bởi chế độ cai trị. Nó là tiếng nói của “bên thắng cuộc”. Nó phục vụ cho đường lối chính trị của chế độ ấy, vì thế không thể đảm bảo sự thật khách quan, chính xác 100%. Đó cũng là điều dễ hiểu.

       Phải chăng chính vì “độ vênh” ở một số yếu tố lịch sử mà bên cạnh chính sử luôn tồn tại dòng “lịch sử truyền miệng”. “Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Không ngẫu nhiên mà cái “bia miệng” kia cứ tồn tại mãi. Từ đời này sang đời khác, không văn bản, mà vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Bởi ở đấy cái lõi sự thật của lịch sử mà vì lý do nào đó, chính sử bỏ quên hoặc cố tình không ghi thì lòng dân ghi tạc trong tâm khảm, lưu giữ bằng truyền miệng. Không có cái lõi sự thực lịch sử, những câu chuyện truyền miệng sẽ nhanh chóng bị quên lãng. Vì thế tôi cho rằng:

        -  Chính sử là một sự thực lịch sử, ta không phủ nhận điều đó, song không ít trường hợp cụ thể vì lý do nào đó, chính sử không bao quát hết, không phản ánh đầy chính xác những gì đã xảy ra. Đó là loại sử viết bằng mực

        -  Bia miệng thế gian cũng là một sự thực lịch sử. Không văn bản. Không đầy đủ tròn vẹn, nhưng là cái lõi sự thật lịch sử bị bỏ quên, bị bẻ cong. Đó là loại sử viết bằng máu.

 

   2 - QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC VĂN HỌC VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ:

        Mỗi nhà văn, nghệ sĩ có một cách nhìn nhận và tiếp cận lịch sử khác nhau qua tác phẩm của mình. Nói trong phạm vi hẹp “tiểu thuyết lịch sử”, hiện nay phổ biến ở ba dạng:

         - Một dạng viết bám chặt vào chính sử. Kể lại lịch sử bằng ngôn từ văn chương, có sử dụng thủ pháp hư cấu nhưng lấy chính sử làm xương sống. Kiểu viết này không khác lắm với “mô phỏng lịch sử”. Văn chương dễ trở nên khuôn sáo, khô cứng giống như con hạc, muốn bay lên mà đôi chân dính chặt với mai rùa quy ước.

         - Dạng thứ hai, lịch sử chỉ là cái cớ để nhà tiểu thuyết tạo nên một “Lịch sử khác”. Sử dụng quyền hư cấu, thậm chí hư cấu vô biên. Khai thác triệt để lịch sử truyền miệng. Triệt để hư cấu theo quan niệm riêng. Cách viết đó dễ làm hiểu lầm lịch sử, xa lạ với nguyên mẫu, nhiều khi khiến sự thực lịch sử không còn là lịch sử nữa.

       - Dạng thứ ba, kết hợp chính sử và truyền miệng, dùng quyền năng văn học đưa tới người đọc một “phiên bản” lịch sử bằng văn chương. Cái lõi chính sử vẫn giữ được “không làm sai lệch lịch sử, méo mó nhân vật”. Người đọc thông qua tác phẩm văn học dạng này được cung cấp một sự thực lịch sử không khác với những gì xảy ra trong quá khứ. Truyền tới bạn đọc lòng yêu mến, trân trọng võ công của ông cha.

       Tôi theo dạng thứ ba này khi viết tiểu thuyết lịch sử!

       Trong hai năm 2021 và 2022 tôi viết hai bộ tiểu thuyết “THIÊN MỆNH” phản ánh về thời kỳ vô cùng rối ren trong lịch sử Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn. Nhân vật trung tâm là đức vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Và tiểu thuyết “THIÊN THU HUYẾT LỆ” giải mã nỗi oan khuất của Trạng nguyên khai khoa, tể tướng đầu triều nhà Lý Lê Văn Thịnh, dưới triều đại vua Lý Nhân Tông.

         Câu chuyện của Trạng nguyên, Thái sư Lê Văn Thịnh xảy ra cách đây đã 928 năm, được ghi lại trong “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: “Bính tý, năm thứ 5 (1096), mùa xuân, tháng 3 Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang… Trước đây Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có pháp thuật kỳ dị, cho nên làm ra như thế để định cướp ngôi, giết vua” (trích tr 254).

       Cho đến nay, “Đại Việt sử ký toàn thư”, do nhà sử học Ngô Sĩ Liên chắp bút dựa vào các cuốn sử trước đó như “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu; “Sử ký tục biên” của Phan Phu Tiên và cả “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của nhiều sử gia trước đó. Nó được coi là bộ chính sử lớn chép lại các sự kiện diễn ra từ thời Hồng Bàng đến triều đại vua Lê Gia Tôn, nhà Lê (1675). Song trong trường hợp trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh, câu chữ trong “Đại Việt sử ký toàn thư” bộc lộ sự mâu thuẫn và rất khó tin ở mấy lẽ:

       Trong quy định của các triều đại phong kiến Việt Nam, có 10 tội lớn nhất gọi là “đại thập ác”, tội mưu giết vua là đứng đầu, nặng nhất, phải tru di cửu tộc (cả 9 họ phải chết theo). Vậy mà trạng nguyên Lê Văn Thịnh lại được “tha tội chết, an trí ở Thao Giang”. Thân nhân, họ hàng không phải tội theo. Đi “an trí” chứ không phải tù đầy và chưa đến một năm đã được tha bổng. Cách xử tội ấy đã nói lên sự thật trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh bị vu oan. Vua Lý Nhân Tông sau khi phán xét tội trạng của trạng nguyên thái sư Lê Văn Thịnh đã lập tức nhận ra mình xử oan cho thầy mình, vị đại quan đầu triều, vị trạng nguyên khai khoa của nền học vấn nước Đại Việt. Nhưng vua là Thiên tử, vua không bao giờ nhận lỗi. Với trường hợp trạng nguyên Lê Văn Thịnh vua Lý Nhân Tông có nhiều cử chỉ sửa lỗi khác ngoài việc tha bổng sớm mà tôi viết trong tiểu thuyết “Thiên thu huyết lệ”. Đó là chính sử.

       Còn huyền sử, lịch sử truyền miệng thì sao. Không phải ngẫu nhiên mà vụ án trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh giả hổ giết vua cứ tồn tại mãi trong lòng dân ngàn năm nay. Trạng Nguyên khai khoa, thái sư đầu triều, thị lang bộ binh Lê Văn Thịnh đã chịu một án oan thấu trời xanh. Chính sử không minh oan thì lòng dân lưu truyền từ đời này sang đời khác, đòi hỏi phải làm sáng tỏ câu chuyện oan khuất này.

       400 năm sau xảy ra vụ án, vị vua anh minh nhất nhà Hậu Lê, đức Lê Thánh Tông là người đầu tiên gián tiếp minh oan cho Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh bằng việc cấp sắc phong cho những nơi thờ tự trạng nguyên. Dù lúc đó người dân vẫn thờ chui. Rồi tiếp đó đến thời nhà Nguyễn từ vua Minh Mạng về sau hàng chục sắc phong được cấp cho các công trình thờ tự trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Ở thời Dân chủ Cộng hòa, năm 2013, bức tượng cụ rồng “Miệng cắn thân, chân xé mình” trong khu thờ trạng nguyên Lê Văn Thịnh ở thôn Bảo Tháp, Gia Bình, Bắc Ninh được Nhà nước CHXHCN Việt Nam, công nhận là bảo vật quốc gia. Nhưng lạ thay, khác với Nguyễn Trãi, đến nay trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh vẫn không được minh oan.

       Chính vì sự bất công, thiếu khách quan đó khiến lòng dân cư lưu truyền, dòng “sử truyền miệng” cứ tiếp nối. Rất nhiều nơi trong nước, tập trung đông nhất ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang có tới vài chục làng xây đền, miếu thờ trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Hàng chục sắc phong gốc được bí mật lưu giữ theo một quy chế rất chặt chẽ của làng. Thời chúng ta đã sống đây, người dân Bắc Ninh phẫn nộ phản đối việc công diễn tập ba vở chèo “Bài ca giữ nước” nói trạng nguyên Lê Văn Thịnh mưu giết vua. Cơ quan có trách nhiệm phải ra văn bản cấm diễn. Tại Bắc Ninh hằng năm có 3 lê hội tưởng nhớ trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh. Lễ hội lớn nhất ở xã Đình Tổ, Thuận Thành trong hai ngày giữa tháng 8 âm lịch. Ngoài lễ hội chính vào ngày 12/8, ngày 13/8 các gia đình làm cỗ cúng trạng nguyên Lê Văn Thịnh tại gia như giỗ tổ tiên mình. Trong lễ cúng bao giờ cũng có món cháo hoa và khúc cá nướng mà trạng nguyên ăn trước lúc qua đời.

       Đó là dòng lịch sử truyền miệng trong lòng dân.

       Cho tới nay gần 1000 năm xảy ra vụ án oan, người dân vẫn mong Nhà nước có cử chỉ chính thức minh oan cho trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh. Ngài là trạng nguyên khai khoa, người mở đầu nền thi cử Nho học Đại Việt, thái sư đầu triều, thị lang bộ binh sát cánh với thống tướng Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt, là vị trưởng sứ bộ Đại Việt đòi được ba châu sáu quận là đất nhà Tống chiếm giữ của nước ta, nay thuộc tỉnh Cao Bằng; là thày dạy vua Lý Nhân Tộng học từ lúc vua 6 tuổi… Một nhân vật có tầm vóc rất lớn về văn hóa, về ngoại giao, về cải cách kinh tế vào giai đoạn nhà Lý đang hoàn thiện các thiết chế cai trị, mà đến nay không một thành phố lớn nào trong nước dám đặt tên đường, tên các cơ sở văn hóa cấp quốc gia. (Ngoài thành phố Bắc Ninh và huyện Gia Bình, quê hương trạng nguyên cùng một số trường học ở vài địa phương).

       Tên của trạng nguyên, thái sư Lê Văn Thịnh xứng đặt cho các đại lộ, các cơ sở văn hóa lớn của quốc gia.

 

    3.  VĨ THANH:

       Với tư cách và trách nhiệm của người cầm bút, khi sử học im lặng thì nhà văn phải lên tiếng. Bằng quyền năng văn học, tôi viết “THIÊN THU HUYẾT LỆ” với ý thức rất rõ ràng:
 
“Khối oan ôm xuống tuyền đài
Thiên thu huyết lệ, nào ai tỏ tường
Rủi, may - Thật, giả vô thường
Dâm Đàm câm lặng, khói sương mịt mờ
Thiên tài mệnh bạc - huyền cơ
Nén hương hậu thế, ngẩn ngơ vọng Người”.
 
        Sau khi tiểu thuyết THIÊN THU HUYẾT LỆ phát hành, bạn đọc ở nhiều vùng trong nước đã nhiệt thành ủng hộ. Người dân không quay lưng với lịch sử, không chán lịch sử, chỉ có điều nhà văn viết về lịch sử như thế nào thôi.

     N.T.T


 

Tiếp cận kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng
            - Từ cái nhin đương đại

 

(Qua ba tác phẩm: Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn)
 

        Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng

zalo (1)

 

            I. NGUYỄN HUY TƯỞNG - NGƯỜI                  VIẾT KỊCH LỊCH SỬ

          Kịch là một thể loại mới xuất hiện trong hệ thống thể loại văn học hiện đại Việt Nam từ những năm hai mươi của thế kỉ XX. Nguyễn Huy Tưởng xuất hiện muộn trên văn đàn hiện đại Việt Nam. Có thể coi  kịch Vũ Như Tô (viết năm 1941, sửa chữa năm 1942, công bố năm 1943 trên tạp chí Tri Tân) là tác phẩm trình làng của nhà văn nhưng ngay lập tức để lại dấu ấn nghệ thuật đặc sắc. Trong nghệ thuật có một quy luật khắt khe “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, có thể lấy đó để soi chiếu, đánh giá thành tựu sáng tác kịch lịch sử của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trước năm 1945 khi ông chỉ viết hai tác phẩm Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện và sau năm 1945 một tác phẩm Bắc Sơn.

  1. Vũ Như Tô (1943)

Về thể loại, có thể gọi Vũ Như Tô là bi kịch (bi kịch lịch sử). Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004, tr.19) ghi “Ở Việt Nam không có bi kịch như một thể loại văn học - sân khấu theo quan niệm cổ điển, chỉ có một số vở tuồng hoặc kịch hiện đại mà nội dung tư tưởng nghệ thuật có chứa đựng yếu tố bi kịch. Có thể coi vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng là một ví dụ”. Chúng tôi tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Hiểu coi Vũ Như Tô là bi kịch trong phẩm tính thể loại của nó “Như vậy, Vũ Như Tô là một bi kịch (và một bi kịch lớn), kiểu bi kịch cổ điển Pháp thế kỉ XVII, với tiêu đề vở là tên nhân vật trung tâm (Andromaque, Phedre, Vũ Như Tô…), với những hồi, những cảnh (lớp) kế tiếp nhau, liên kết với nhau chặt chẽ, và cuối cùng kết thúc bằng những cái chết” (Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2000, tr.424). Tinh thần chủ đạo của bi kịch theo Aristote là “Sự mô phỏng một hành động quan trọng và trọn vẹn có quy mô nhất định”, “Bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch, qua cách (khêu gợi lên - N. D) sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó” (Aristote: Nghệ thuật thi ca. Lưu Hiệp: Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, 1999, tr 34).

Coi Vũ Như Tô là bi kịch chúng tôi cho rằng xác định xung đột kịch cơ bản ở đây là kiểu loại xung đột nào là vấn đề rất quan trọng. Có một cách hiểu xung đột chính của kịch Vũ Như Tô là xung đột giữa nghệ sĩ và quyền lực của chính thể (qua cặp đôi nhân vật Vũ Như Tô và Lê Tương Dực - Vua nhà Lê). Xung đột này tạo nên nội dung vở kịch năm hồi với những lớp kịch hết sức linh hoạt, đầy biến ảo (Vũ Như Tô đã đem mẹ già, vợ và hai đứa con bỏ trốn, nhưng bị bắt, bị đóng cũi giải về kinh thành để thực thi mệnh lệnh của Vua xây Cửu Trùng Đài, nhờ Đan Thiềm tìm giúp kế trốn nhưng không thành, cái vạ “tru di cửu tộc” treo lơ lửng trên đầu…). Nhưng có một cách hiểu khác về xung đột chính của vở kịch Vũ Như Tô là nằm ở Đề tựa “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải. Đài Cửu trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Tháp người Hời nguyên là giống Angkor! Mải vật lộn quên cả đài cao mộng lớn. Công ông cha hay là nỗi thiệt thòi? Ôi khô khan! Ôi gay gắt! Nhưng đừng vội tủi. Sức sống tràn từ ải Bắc đến đồng Nam. Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Lời Đề tựa viết ngày 8 - 6 - 1942 trong khi vở kịch được hoàn thành trước đó một năm (ghi cuối tác phẩm: Mùa hạ năm 1941). Xung đột chính của kịch, theo chúng tôi, nằm trong câu cuối của Đề tựa “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Không phải vô cớ mà một năm sau khi hoàn thàng tác phẩm nhà văn mới viết Đề tựa.

Có thể coi Đan Thiềm là một trong hai nhân vật chính của bi kịch Vũ Như Tô (trong khi kịch có rất nhiều nhân vật: 16 có tên riêng và 4 có tên chung). Nhân vật này xuất hiện ở lớp II (Hồi thứ nhất) trong khi nhân vật chính số một Vũ Như Tô mãi đến lớp VI (Hồi thứ nhất) mới xuất hiện. Đúng là “hữu duyên thiên lí năng tương ngộ”, mới gặp lần đầu mà Vũ Như Tô đã kịp nhận ra “Trông quầng mắt thâm kia, tôi đoán chắc là người trong túy hương mộng cảnh”. Nhưng thật ra thì đôi mắt ấy là “Do những lúc thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét”. Người phụ nữ tài sắc này đã nhận biết người mình mới gặp lần đầu “Chính là một người đồng bệnh nên chưa biết ông tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm ông lụy cũng như nhan sắc phụ người”. Gặp nhau rồi lập tức trở thành tri âm tri kỉ, rồi “dắt díu” nhau đi hết tác phẩm với một kết cục bi ai (Đan Thiềm bị giết cuối lớp VII  (Hồi thứ năm), còn Vũ Như Tô bị giết cuối lớp VIII (Hồi thứ năm) khi vở kịch kết thúc. Đan Thiềm là một người mang phẩm tính của kẻ sĩ: tiết tháo, liên tài và giàu linh cảm, đã nhìn thấy ở nghệ sĩ Vũ Như Tô một năng lượng tinh thần sáng tạo vô bờ bến nhưng chưa được khích lệ đúng lúc, chưa được giải phóng hết mức. Trong hoàn cảnh ấy Đan Thiềm như là “bà đỡ” của Vũ Như Tô “ Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một tòa lâu đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông”. Đan Thiềm là người giúp Vũ Như Tô hoá giả được những xung đột nội tâm: Lẽ phải thuộc về người nghệ sĩ hay về quyền lực ( Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải?), nghệ thuật phụng sự cái gì (Đài Cửu trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?). Nói Vũ Như Tô đồng bệnh với Đan Thiềm chính là cuối cùng người nghệ sĩ đã ngộ ra một sự thật: Quyền lực là một nguy cơ tha hoá và tội ác, đám đông không có quyền lực và thiếu hiểu biết cũng lại là một nguy cơ đối với nghệ sĩ, nó như một trở lực khó vượt qua (cảnh cuối khi đám đông tự phát kéo đi tìm giết cả Đan Thiềm, cả Vũ Như Tô và đốt rụi Cửu Trùng Đài). Nỗi đau đớn của Vũ Như Tô với tư cách một nghệ sĩ không phải là nỗi đau của riêng cá nhân người này mà là “nỗi đau không của riêng ai” (của tất cả những người có tài năng, có lẽ sống lớn và khát vọng sống, làm việc và cống hiến một cách chính đáng và xứng đáng). Tôi đồng cảm với ý kiến của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khi ông viết “ Hình như chỗ giỏi của các nhà văn thiên tài là bằng lòng tốt và ngòi bút bất lực của mình, anh ta kéo được sức mạnh của Tạo hoá tự nhiên cùng với sức mạnh của thể chế chính trị xã hội đương thời xích lại gần nhau” (Nguyễn Huy Thiệp: Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội Nhà văn, 2005, tr.29). Có lẽ xung đột mà người nghệ sĩ tài năng Vũ Như Tô cần giải quyết chính là ở chỗ này chăng?! Đây có thể là một giả định nghệ thuật mà không riêng tôi quan tâm.

 

        2.Cột đồng Mã Viện (1945)

          Tự hào dân tộc nhưng hòa hảo với đồng loại lân bang là tinh thần quán xuyến của kịch Cột đồng Mã Viện. Cái tài của nhà văn là tìm ra xung đột kịch từ một sự vật rất cụ thể, có tính lịch sử: cột đồng Mã Viện với hàng chữ “Đồng trụ triết, Giao chỉ tiệt”. Đây là vở kịch 3 hồi, với 13 nhân vật và bài trí chung cho cả ba hồi “ Một cảnh núi non trùng điệp ở miền Quảng Tây, chỗ giáp giới xứ Giao Chỉ và Trung Quốc. Dựng trên một quả núi cao, ở giữa là cột đồng, có đề sáu chữ “Đồng trụ triết, Giao chỉ tiệt”. Trước mặt có một con đường nhỏ, cong queo, vắt từ núi này sang núi khác và biến vào những núi ở xa. Chân cột đồng đầy những mảnh sành và đá”. Kịch gồm 13 nhân vật (kịch lịch sử thường nhiều nhân vật, nhưng khác với Vũ Như Tô có hai nhân vật chính, là Đan Thiềm và Vũ Như Tô, trên tổng số 16 nhân vật có tên riêng và 4 nhân vật có tên chung) nhưng không có nhân vật chính với ý nghĩa là “con người này”. Cái nhìn trên quan điểm lịch sử tiến bộ như đã nói ở trên thể hiện rất rõ qua nhân vật Vương Độ (một người dân Trung Quốc) xuất hiện ở lớp IV (Hồi thứ nhất) đã săn sóc người mẹ Hùng Chi (người  Giao Chỉ tiêu biểu, xuất hiện ở lớp I, Hồi thứ hai) đau khổ vì phải xa cách đứa con trai dũng cảm lâu ngày. Vấn đề đặt ra ở đây là: xung đột chính của kịch nằm ở đâu? Ở tinh thần dân tộc (giữa người Giao Chỉ với ngoại bang mà biểu tượng là Cột đồng Mã Viện) hay ở tinh thần đồng loại, ở thái độ xóa bỏ hiềm khích, định kiến giữa những con người thuộc hai nước kề cận, có mối quan hệ lâu đời (giữa những người dân thường của hai quốc gia đang có xung khắc quyền lợi)? Nhân vật Vương Độ xuất hiện ở lớp IV (Hồi thứ nhất), đối thoại với Chu Vũ (cũng là một người Trung Quốc) “Ấy, lão gia bắt canh giữ cột đồng, vì nghe đâu có một bọn Giao Chỉ lăm le muốn phá”, “Phá là phải, ai lại làm nhục người ta như thế bao giờ. Đánh dẹp xong thì thôi, làm gì phải gây thù gây oán thêm nữa. Tôi chẳng thích thế. Người Giao Chỉ càng tổ ghét chúng mình chứ được cái gì”. Một “tôi con nhà Hán” mà nói như thế quả thật “nghe không lọt tai” những người Trung Quốc khác lúc bấy giờ như Chu Vũ. Ở lớp VI (Hồi thứ hai), khi Vương Độ gặp Hùng Chi, họ tỏ rõ là những con người lấy đều nhân nghĩa để đối xử với nhau “Tôi là người Tàu, nhưng thực không khác gì người Giao Chỉ”, thậm chí “ Bác với tôi tình hơn ruột thịt, mẹ bác là mẹ tôi”. Ở lớp I (Hồi thứ ba), Vương Độ gặp mẹ Hùng Chi, ông ta tâm sự “ Tôi chỉ mong cho bác ấy phá được cột đồng, cho thỏa chí, cho bõ công lao” (muốn nhắc tới việc Hùng Chi chỉ huy một toán khoảng 60 người phá Cột đồng Mã Viện). Khi gặp một ông già người Giao Chỉ, Vương Độ nói “ Tôi là người Khách thực đấy, nhưng không có bụng dạ nào đâu. Tôi cũng như các bác cả. Tứ hải giai huynh đệ”. Phải chăng tư tưởng xóa bỏ hận thù đã là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm kịch Cột đồng Mã Viện, cho đến nay vẫn nóng hổi ý nghĩa thời sự và nhân văn. Đó là tinh thần hòa hiếu, hòa giải, hòa hợp dân tộc mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã “ngộ” ra được rất sớm cách thời chúng ta đang sống gần 70 năm. Hoá giải xung đột bằng con đường nghệ thuật - hay chính là con đường của cái đẹp - chính là nét đặc sắc của tác phẩm kịch Cột đồng Mã Viện. Có một chi tiết là hai trang cuối của vở kịch bị thất lạc, phải chăng bị kiểm duyệt đương thời xóa bỏ đi?! Nếu thế chắc chắn những con chữ cuối cùng của tác phẩm đã bộc lộ một tinh thần dân tộc, một hào khí Việt Nam có truyền thống hàng ngàn năm lịch sử.

Cột đồng Mã Viện khiến chúng ta suy tưởng, chiêm nghiệm lịch sử thời hiện đại, một lịch sử ngày càng khốc liệt và phức tạp hơn. “Ôn cố tri tân” không bao giờ là cũ trong phép tư duy của chúng ta. Trong vở kịch này khi lấy lịch sử làm “phông”, Nguyễn Huy Tưởng cũng đã đồng thời khai thác và thể hiện những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân (người Giao Chỉ) giữa cái tốt và cái xấu (cái xấu nhân cơ hội rối ren của lịch sử bành trướng lên). Trong kịch có nhân vật Mụ lấy Khách (chỉ một phụ nữ Giao Chỉ lấy người Trung Quốc) xuất hiện ngay ở lớp I (Hồi thứ nhất). Bà ta tự hào “Ấy, ba mươi năm lấy Khách mới được thế này, chứ ở làng thì mòn đời đi ở. Bây giờ là bà chủ, ai cười mặc ai, ai chê mặc ai. Giàu là được”, “Làm gì có bố mẹ, anh em mà nhớ. Ấy là có mấy đứa mách bán cho mấy đứa gái, tôi về đem sang làm nàng hầu cho chú nó nhà tôi. Ấy, chỉ thích vợ ta, dễ bảo mà”. Hoá ra là từ thời xa xưa, nạn buôn bán phụ nữ qua biên giới đã là một nghề hái ra tiền của một số người như Mụ lấy Khách.

Có ý kiến cho rằng, so với Vũ Như Tô thì Cột đồng Mã Viện “ Về phương diện biên kịch và khắc họa tính cách Cột đồng Mã Viện là một bước lùi không sao che dấu nổi so với Vũ Như Tô” (Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2000, tr 388). Riêng chúng tôi lại không nghĩ như thế vì hai vở kịch là hai đề tài, hai chủ đề, hai bút pháp viết khác nhau. Nếu vở kịch thứ nhất  nhà văn đi sâu vào nội tâm nhân vật với những sóng gió quyết liệt thì ở vở kịch thứ hai hướng khai thác và thể hiện lại là lịch sử trong các biến cố, sự kiện trái khoáy của nó xoay quanh cái sự kiện Cột đồng Mã Viện và hàng chữ “Đồng trụ triết, Giao Chỉ tiệt”.

        3.Bắc Sơn (1946)

          Kịch lịch sử Bắc Sơn được viết và công diễn lần đầu trên sân khấu Thủ đô năm 1946 (trong hai ngày 6 và 7 tháng 4 năm 1946) và các địa phương khác như Huế, Thanh Hoá, Nghệ An. Chuyện kịch “Xẩy ra khoảng tháng chín, tháng mười năm 1940 và đầu năm 1941, tại Bắc Sơn”, gồm năm hồi, với 7 nhân vật ( người dân tộc Thổ và Kinh). Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 được ghi trong lịch sử hiện đại Việt Nam chính là chất liệu gợi cảm hứng sáng tác cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Xoay quanh câu chuyện của một gia đình, tác giả mở rộng không gian kịch từ không gian gia đình ra không gian xã hội - lịch sử. Có ý kiến cho rằng “Chúng tôi không xem Bắc Sơn là một vở kịch lịch sử theo đúng nghĩa thuần túy của nó. Bắc Sơn có dựng lại một cuộc khởi nghĩa đã qua trong lịch sử, nhưng những nhân vật của nó hoàn toàn là những con người mới của hiện đại. Bắc Sơn là một vở kịch hiện đại có sử dụng một số tài liệu lịch sử” (Nguyễn Huy Tưởng - về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2000, tr.484). Chúng tôi nghiêng về phía ý kiến coi Bắc Sơn là một tác phẩm kịch lịch sử khi ngay Hồi thứ nhất cái không khí lịch sử cách mạng đã ùa vào từng nhà, lôi cuốn sự quan tâm của mỗi người. Nhân vật Ông Cụ Phương (60 tuổi) say sưa nhận biết “ Người đông như kiến, ai cũng hả hả hê hê, mở mày, mở mặt. Cụ già đầu bạc cũng đi, con trẻ lon ton cũng đi. Người đang có con cho bú cũng đi. Đàn ông có, đàn bà có. Mắt người nào người ấy cứ sáng như đèn. Người ta đánh trâu, đánh bò đi biểu tình đấy. Người ta vác cả gậy, cả liềm, cả hái, cả cày, cả bừa đi biểu tình đấy”. Sáng (18 tuổi, con trai Ông Cụ Phương) thì ngời ngời ngời khí thế “Thằng Tây nó khủng bố ở Mỏ Nhai. Cả châu Bắc Sơn, từng làng chạy trốn, chả ai được ăn ngon, ngủ yên. Ra khỏi tổng này mà xem một tí. Có những làng nó đốt cháy rực trời ra; ngay ở tổng này cũng có khối làng người ta chạy Tây đến xin ở nhờ, đem cả bò, cả lợn đi theo đây kia kìa. Có biết không? Ở ta, nếu cứ đợi cho chúng nó đến thì chết hết, chúng ta phải nổi lên”. Cách mạng đã khai tâm cho mỗi con người bình thường nhất biết “nổi lên” thay đổi số phận của mình thoát khỏi cường quyền áp bức. Cách mạng có lúc thăng, lúc trầm như một quy luật đến người dân thường cũng hiểu. Nhân vật Cửu (24 tuổi, dân cày người Thổ) biết được “Rồi sau Tây nó kí hiệp ước với Nhật xong, nó lại cho lính về đóng ở Mỏ Nhai mấy Bình Gia. Nó khủng bố quá thể” (Hồi III và IV). Cuối cùng, vượt qua bao gian khổ hi sinh, phong trào cách mạng lại hồi sinh, căn cứ khu du kích được thành lập để chiến đấu lâu dài với kẻ thù (Hồi V), tinh thần của quần chúng được giác ngộ cách mạng lên cao. Nhân vật Cô Thơm (20 tuổi, con gái Ông Cụ Phương, vợ Ngọc) lả đi mà vẫn tràn trề hi vọng “ Trường Vũ Lăng ta lại chiếm được kia kìa. Đi mau lên, các ông. Các ông cố lên nhớ. Mau lên. Có phải cờ ta đấy không?”.

Xung đột kịch trên bề rộng là xung đột giữa quần chúng cách mạng được giác ngộ với thực dân Pháp xâm lăng và bọn Việt gian phản động bán nước. Từ bề rộng chuyển dần sang bề sâu, ngấm và lan tỏa vào từng gia đình “tế bào của xã hội”. Ngay trong gia đình Ông Cụ Phương, không phải tất cả  đều “sóng yên biển lặng”. Xung đột nội bộ trong gia đình Ông Cụ Phương khúc xạ qua nhân vật Thơm (20 tuổi, con gái ông bà cụ Phương, vợ Ngọc). Lúc đầu (ở Hồi thứ hai) Thơm vẫn còn đắn đo vì sợ nên dặn chồng “Trong làng ngoài tổng cứ rầm rập thế kia, thế mà mình không làm gì thì cũng không tiện. Nhưng chỉ làm việc giấy má thôi, anh thằng Sáng ạ. Có việc gì thì cũng không làm sao”. Cầu an, bảo trọng không phải là một thói xấu trong đời thường, nhưng trong cảnh nước sôi lửa bỏng của thời cuộc cách mạng thì quả là tụt hậu, chậm tiến. Nhưng đó là xét theo phương diện con người cá nhân, tình  nghĩa vợ chồng. Nhưng về mặt con người xã hội thì Thơm không phải là loại “cù lần”. Thơm nhận ra ở chồng “có vấn đề” khuất tất, nhưng lúc đầu vẫn biện minh, bảo vệ “ Cái gì người ta cũng bảo nhà con. Trước đi làm việc quan thì bảo luồn lọt, ăn lễ. Hôm nọ, thì bảo phao tin nhảm, nhất định bắt…giá mé không nói cho”. Nhưng đến một lúc tình vợ chồng cũng không ngăn nổi sự băn khoăn, day dứt, hoài nghi việc làm của chồng, Thơm đau đớn “Người ta bảo anh thằng Sáng dắt Tây vào đánh Vũ Lăng”. Cuối cùng thì sự thật tàn nhẫn cũng phơi bày ra khi Thơm nhận ra chân tướng của chồng “Anh tưởng tôi không biết nhục à? Vợ một thằng chó săn! Sao tôi lại theo anh cơ chứ ?...Anh có phải là người nữa không? Phải, Tôi giúp quân du kích đấy. Tôi đố anh phá nổi quân du kích, tôi thách thằng Tây phá nổi quân du kích! Mở mắt ra!”.  Ngọc bắn vợ mình nhưng liền sau đó bị du kích bắn chết. Kết thúc kịch, trong một gia đình có hai người chết: Ông Cụ Phương (cuối Hồi thứ ba) và Ngọc (cuối Hồi thứ năm) và một người bị thương nặng (Thơm).

Chúng tôi nghĩ không có gì quá khi gọi Bắc Sơn là một bi kịch lịch sử lạc quan.

 

II. NHỮNG BÀI HỌC NGHỆ THUẬT TỪ KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG

1.Không phải vô cớ mà tác phẩm kịch Vũ Như Tô (dưới tên Vĩnh biệt Cửu trùng đài) của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn11 (PTTH) . Trong Kết quả cần đạt ghi rõ “1/ Hiểu được bi kịch của những nghệ sĩ nhiều tài năng, khát vọng mà không có điều kiện thi thố, thực hiện và thái độ cảm thông trân trọng của Nguyễn Huy Tưởng đối với họ. 2/ Thấy được những nét đặc sắc trong nghệ thuật kịch của tác giả qua đoạn trích”. Tiếp đến trong sách Ngữ văn 12 (PTTH), tác phẩm kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ lại được đưa vào như một tác phẩm kịch duy nhất của nền văn học hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945 đến năm 2000. Đây cũng là một tác phẩm thuộc kiểu loại bi kịch. Nhưng bi kịch mà Lưu Quang Vũ tạo dựng nên trong tác phẩm của mình là dựa vào chất liệu dân gian để khái quát nghệ thuật cái bi kịch muôn thưở của con người là “bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo”. Chúng tôi đã  tham dự một số tiết giảng của giáo viên phổ thông về Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô). Đáng mừng là giáo viên giảng rất say sưa và chúng tôi nghiệm thấy lịch sử nhờ văn học đã cất cánh và neo lại được trong kí ức của tuổi thơ học trò (học sinh THPT cũng rất thích kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ).

Thực tiễn văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt từ sau 1986, cho thấy rõ  “cái bi kịch” đang có xu thế nằm ở vị trí trung tâm thay cho “cái anh hùng” như đã thấy trong văn học cách mạng 1945 -1975. Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Hà Phạm Phú ( Trưng Trắc), Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều Trần), Nguyễn Quang Thân (Hội thề), Thái Bá Lợi (Minh sư)…cho độc giả một niềm hi vọng có căn cứ vào công việc phục chế lịch sử bằng nghệ thuật ngôn từ của một thể loại rường cột của văn học. Kịch lịch sử kiểu dạng như Vũ Như Tô của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng vẫn còn rất hiếm hoi và khó đứng vững trên văn đàn đương đại. Vì sao? Năm 1979 nhà văn Nguyễn Đình Thi (1924 -2003) sáng tác vở kịch lịch sử Nguyễn Trãi ở Đông Quan (sự việc của kịch xảy ra trong khoảng thời gian từ cuối năm Đinh Hợi 1407 đến năm Đinh Dậu 1417, thời kì quân Minh xâm chiếm nước ta). Số phận của nó không may mắn khi trình diễn trên sân khấu Thủ đô chỉ được một số buổi đếm đầu ngón tay. Sự rơi vào im lặng của vở kịch này lúc đó có những lí do nhạy cảm (gần đây được đưa vào sách Nguyễn Đình Thi, Toàn tập - 4 tập - Tập I, Nxb Văn học, 2009). Năm 1989 nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sáng tác kịch Còn lại tình yêu (viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Thái Học, in trong sách Nguyễn Huy Thiệp, Tuyển tập kịch, Nxb Trẻ, 2003). Nhưng vì sao những tác phẩm bi kịch lịch sử của những nhà văn tài năng này lại không có tiếng vang, không chinh phục độc giả và khán giả? Đây là một câu hỏi khó mà phần trả lời dành cho các nhà nghiên cứu văn học chuyên về kịch hiện nay. Hơn 50 năm sau khi xuất hiện, với tư cách là kịch văn học, Vũ Như Tô lần đầu tiên mới được Nhà hát Tuổi Trẻ dàn dựng, trình diễn trên sân khấu Thủ đô vào năm 1995 (theo Từ điển văn học, Bộ mới, Nxb Thế giới, 2004, tr 2029). Rào cản nào gây nên thực trạng ấy? Do chỗ có vấn đề nhạy cảm hay do kịch của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng khó đưa lên sân khấu trình diễn? Chúng tôi nghĩ là cả hai (cũng tương tự như tác phẩm kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan của nhà văn Nguyễn Đình Thi). Trong các vở kịch, đặc biệt là Vũ Như Tô, cái nhìn sâu vào lịch sử đã giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng linh cảm và dự báo được xu hướng của hiện thực xã hội như chúng ta hiện đang chứng nghiệm.

3.Qua ba vở kịch lịch sử Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng một vấn đề đặt ra là: lịch sửvăn học sẽ tương liên như thế nào để mỗi lĩnh vực thực hiện được chức năng của mình trong một chỉnh thể tác phẩm. Hoặc là nhà văn dựa vào cái “đặc quyền” hư cấu của mình để bịa đặt, thậm chí  xuyên tạc lịch sử  như chúng ta đã từng gặp đâu đó, hoặc bê nguyên xi lịch sử vào khiến cho văn học phải gánh thêm gánh nặng ( độc giả đã phải đọc hàng ngàn trang sách mà xét cho cùng không hiệu quả). Chúng ta đã nhận ra cách giải quyết kéo léo của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng về vấn đề này. Nhà văn, theo chúng tôi, đã không “chủ quan hoá” lịch sử, nghĩa là cố tình nhào nặn lịch sử theo cái ý đồ và khuôn mẫu sáng tác của mình (chẳng hạn nhà văn xa lạ với trào lưu “đạp đổ thần tượng” hoặc thậm tệ hơn là “nhổ nước bọt vào lịch sử” hoặc “hiện đại hoá lịch sử”). Lịch sử ở đây được soi ngắm cả trong bề rộng lẫn chiều sâu của nó, cả trong sử viết bằng chữ và cả trong sử không được viết bằng chữ (đó là cách viết sử của Tư Mã Thiên ở Trung Quốc cách đây hàng nghìn năm). Có một vấn đề liên quan đến quá trình sáng tác là vấn đề cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Thực tiễn văn học đã chỉ ra có kiểu cảm hứng lớn, tích cực (chúng tôi gọi là đại khí) và có kiểu cảm hứng vụn vặt, tiêu cực (chúng tôi gọi là tiểu khí) đến với từng nhà văn. Rõ ràng cảm hứng lịch sử lớn lao là giá đỡ, bệ phóng cho cảm hứng chủ đạo trong sáng tác kịch lịch sử của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (cảm hứng kiểu loại này về sau xuyên thấm trong kịch tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô hoặc truyện phim Lũy hoa, truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng). Cảm hứng lớn, tích cực giúp nhà văn có tầm bay cao, bay xa của đại bàng nhìn thấu cuộc sống cả trong bề rộng lẫn bề sâu (nói cách khác đó là năng lực thấu thị lịch sử, cuộc đời, con người). Như chúng ta biết, cuộc đời nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dù cũng thăng trầm, nhưng chưa bao giờ ông đánh mất niềm tin vào chính mình, vào chính nghĩa. Tin vào lẽ phải, tin vào chính nghĩa và được đảm bảo bằng một nhân cách trong sáng đến tận cùng, theo chúng tôi, đó là phẩm tính không phải người cầm bút nào cũng lưu giữ được khi phải trải qua những thử thách khắc nghiệt nhất của đời người. Ông tâm huyết với lịch sử trong sáng tác phải chăng ông tin vào sự công minh của chính bản thân lịch sử?!

 Hà Nội, tháng 5-2024
                B.V.T



 

                             Từ tư liệu lịch sử đến tác phẩm văn chương

 

        Nhà văn Lê Hoài Nam

zalo

      Hẳn rằng bất cứ nhà văn nào khi mang dự định viết tiểu thuyết, truyện ngắn đề tài lịch sử cũng bắt đầu tự đặt cho mình câu hỏi “Từ tư liệu lịch sử đến tác phẩm văn chương phải trải qua những công đoạn như thế nào?”. Chỉ khi  nhà văn ấy trả lời thật thấu đáo, thật minh triết cho câu hỏi đó thì sáng tác tác phẩm mới có thể thành công. Khi mang ý định viết tiểu thuyết, truyện ngắn đề tài lịch sử, tôi cũng trăn trở trong một thời gian dài về câu hỏi đó. Câu hỏi tưởng như không khó trả lời, nhưng trong quá trình sáng tác tác phẩm, trong khoảng trên dưới 10 năm, tôi đã viết và xuất bản hai cuốn tiểu thuyết đề tài lịch sử, đó là “Mỹ nhân nơi đồng cỏ” (2017), “Cuộc đời xa khuất” (2022); một cuốn tiểu thuyết nữa mang yếu tố lịch sử Thiên Chúa giáo có tên “Hạc hồng” (2019), và hàng chục truyện ngắn cũng khai thác đề tài lịch sử, tôi mới tự rút ra những bài học như sau:

1 - Từ một câu chuyện trong lịch sử đã mang dáng dấp một cốt truyện gần gặn tác phẩm văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn):
     
Cho dù thế thì nhà văn cũng còn phải làm khá nhiều việc. Về sự kiện: tôi thường tôn trọng những sự kiện có thật trong lịch sử, nhất là những sự kiện lớn đã đi vào tâm thức của công chúng; nếu nhà văn “sáng tác” ra sự kiện dễ khiến công chúng từ hoài nghi sự kiện mà hoài nghi luôn cả tính chân thực của nhân vật. Tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử mà bị công chúng hoài nghi về tính chân thực của sự kiện và nhân vật thì hiệu ứng của tác phẩm sẽ không cao. Nhưng nếu quan niệm sự chân thực ở đây lại giống như sao chép lịch sử thì cũng không đúng. Bởi nếu sao chép lịch sử thì người ta đọc sách sử chứ đâu cần đến sách văn. Việc của nhà văn giống như vai trò của một kiến trúc sư: từ câu chuyện lịch sử phải sắp xếp cốt truyện sao cho phù hợp với kết cấu và sự chuyển tải ý tưởng của tác phẩm. Chỗ nào cần phải gia tăng yếu tố trữ tình, chỗ nào cần đẩy cao kịch tính, chỗ nào thắt, chỗ nào mở…đều nằm trong “bản thiết kế” rất khoa học của nhà văn. Về văn, nếu như trong sách sử chỉ là thể văn tư liệu, thông tấn thì nhà văn khi viết tác phẩm phải dùng trí tưởng tượng lấp đầy những khoảng trống một cách hợp lý, thổi hồn vào văn, làm cho các câu văn, trang văn lấp lánh, khêu gợi, mời gọi độc giả. Các truyện ngắn “Chuyến du xuân của Hoàng Đế”, “Chúa thường đàng ngoài”, “Vương phủ đàng trong”, “Giáng sinh”…tôi đã viết theo phương pháp này. Mỗi câu chuyện ấy trong sách sử chỉ khoảng 300 đến 500 chữ; riêng truyện “Giáng sinh” tôi khai thác trọn vẹn một chương trong Kinh Tân Ước, cũng chỉ khoảng 400 chữ, nhưng khi tôi viết thành truyện ngắn thì mỗi truyện lên tới 3000 đến 5000 chữ. Rõ ràng là vai trò sáng tạo của nhà văn là rất lớn.

2 - Một nhân vật, hoặc nhiều nhân vật có liên quan đến nhau, có những yếu tố xây dựng thành tác phẩm văn học, nhưng lại ở nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
     Nếu khai thác một nguồn tư liệu thấy chưa đủ, cần phải khai thác nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Thậm chí các nguồn tư liệu khác nhau, người viết sử ăn lương của triều đình phải viết trong sự kiểm duyệt của triều đình, những người viết sử tự do cũng mỗi người mang một cái nhìn, một quan điểm cá nhân nên có sự khác nhau; vậy người viết tác phẩm văn học phải xử lý ra sao? Đây là trường hợp khi tôi viết tiểu thuyết “Mỹ nhân nơi đồng cỏ”. Thời gian diễn ra là thời kỳ vua Lê Thái Tổ mới qua đời, Hoàng tử Lê Nguyên Long nối ngôi, trở thành vua Lê Thái Tông. Lê Thái Tông lên ngôi ở tuổi 20. Là người thông minh, chính trực, khi cầm quyền nhà vua đã làm được rất nhiều việc hữu ích để chấn hưng đất nước hoang tàn sau chiến tranh. Nhưng ông vua trẻ này lại có một điểm yếu là quá lụy tình. Vua đã có 3 người vợ, ba bà sồng hòa thuận, mỗi bà đều đã có một con trai với vua, nhưng khi người ta tiến cử Nguyễn Thị Anh vào cung làm người vợ thứ tư của vua thì sắc đẹp của “mỹ nhân nơi đồng cỏ” này đã khiến vua si mê nàng đến độ thiếu sáng suốt, không còn tự kiểm soát được mình. Kể từ đấy trong triều bắt đầu có chuyện lục đục tranh dành giữa các phe phái, rốt cục dẫn đến cái chết của vua trong một chuyến ngài đi tuần bằng thuyền trên sống Thiên Đức. Trong nhiều sách sử đều viết, người ngồi cũng thuyền uống rượu với nhà vua rồi đầu độc ngài là Nguyễn Thị Lộ, vợ Nguyễn Trãi, vì thế người ta đã kết tội người lập mưu giết vua chính là Nguyễn Trãi. Người ta xử Nguyễn Trãi cùng với ba họ của ông án tru di. Vậy ai là người giết vua? Có phải Nguyễn Thị Lộ như nhiều tài liệu chép không? Tôi thấy giả thiết này rất vô lý, bởi Thị Lộ giết vua nhằm mục đích gì?  Nguyễn Trãi có phải là người ham hố quyền lực đến độ tàn bạo như thế không? Ai ra lệnh giết Nguyễn Trãi và tam tộc của ông? Lê Sát, Lê Ngân ư? Tôi cho rằng không phải. Tuy hai  viên quan đại thần này là dân võ biền ít học, rất hay tị nạnh, ghen ghét với Nguyễn Trãi, nhưng luật triều đình thì họ không có quyền ra lệnh giết Nguyễn Trãi. Người có quyền tối cao chỉ có thể là nhà vua. Khi vua đã mất thì người có quyền sau vua phải là người vợ có quyền hành nhất trong số bốn người vợ của ngài, vậy thì địch thị là Nguyễn Thị Anh chứ không ai khác. Có những tài liệu chép rằng, khi Nguyễn Thị Anh được tiến cử vào triều làm vợ vua thì bà đã mang thai hai tháng với một viên quan nhỏ ở địa phương. Viên quan này biết Nguyễn Thị Anh đã có thai đã tiến cử nàng vào triều để được hưởng ân sủng. Vua quá si mê Nguyễn Thị Anh, ngài ban cho nàng cái quyền cao nhất trong 4 người vợ, và điều trái khoáy nhất khi còn sống là ngài đã phong Hoàng tử cho đứa con riêng của Nguyễn Thị Anh mà ông vẫn coi là dòng máu của mình. Khi vua băng hà thì chàng Hoàng tử ấy nghiễm nhiên trở thành người kế nhiệm, cho dù chàng còn ở tuổi thiếu nhi, đó là vua Lê Nhân Tông. Nguyễn Thị Anh dùng mọi mưu mô thủ đoạn, tạo vây cánh để giữ bằng được ngai vàng cho con trai. Bà cả, bà hai, tuy mỗi người cũng có một con trai, những đều bị Nguyễn Thị Anh vô hiệu hóa. Chỉ còn bà vợ ba của vua - nàng Ngô Thị Ngọc Dao - thì Nguyễn Thị Anh chưa thể hạ bệ được; một là bởi Ngô Thị Ngọc Dao, con gái Ngô Từ đang là quan đại thần trong triều; hai là Ngô Thị Ngọc Dao có học nhất trong số 4 người vợ của vua; ba là cậu bé Lê Tư Thành, con Ngô Thị Ngọc Dao rất thông mình, lại sớm có những phẩm chất của một quân vương nên tất cả những ai chính trực đều đứng về phía mẹ con nàng. Trong số ấy có Nguyễn Trãi. Hơn nữa, thông qua viên hoạn quan chuyên ghi nhật lịch cho vua, Nguyễn Trãi còn biết rất rõ Lê Nhân Tông con trai Nguyễn Thị Anh đang làm vua không thuộc dòng máu nhà Lê, do vậy Nguyễn Trãi trở thành một cái gai mà Nguyễn Thị Anh muốn nhổ. Đến lúc Vua Lê Thái Tông vừa băng hà, Nguyễn Thị Anh lấy ngay cái cớ Nguyễn Thị Lộ, vợ Nguyễn Trãi, bỏ thuốc độc cho vua chết để tử hình ông và ba họ của ông. Nhưng Lê Nhân Tông làm vua không được lâu. Lạng Sơn Vương, con trai bà vợ cả vua Lê Thái Tông, lấy cớ là con trưởng mà không được truyền ngôi, lại còn bị đầy lên Lạng Sơn giữ chân quan nhỏ của địa phương, liền tập hợp quân lính hành quân từ Lạng Sơn về kinh đô, đột nhập vào hoàng thành giết chết mẹ con Nguyễn Thi Anh – Lê Nhân Tông. Lạng Sơn Vương được nuôi dưỡng nơi núi từng hoang dã, tính tình thô lậu, thiển cận nên y không được kế ngôi, không những thế còn bị các đại thần  buộc y phải quyên sinh để cung đình không còn rối loạn nữa; họ dựng Lê Tư Thành, con Ngô Thị Ngọc Dao lên ngôi, lấy hiệu Lê Thánh Tông. Kể từ đây, nhà Hậu Lê bước vào thời kỳ thịnh trị dưới sự trị vì của vị vua anh minh. Ngay sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi, trong đó có câu nói bất hủ: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Tâm của Nguyễn Trãi sáng như sao khuê).

Tôi phải diễn giải hơi dài dòng như thế để muốn nói rằng vụ án Lệ Chi Viên vô cùng phức tạp, tài liệu còn lại, ngay cả trong chính sử cũng chưa hẳn đã đúng. Tôi càng gặp khó khăn hơn khi trước tôi đã có nhiều nhà văn đã viết về sự kiện này. Tôi phải chuẩn bị tinh thần rất cao, tự nhủ mình: một người viết văn cần phải có một linh cảm đặc biệt, một giác quan thật bén nhậy, một bản lĩnh cao cường để hình dung ra một phương án tối ưu nhất, khách quan và khả thủ nhất khi phân tích, xử lý tài liệu, xây dựng tác phẩm mang dấu ấn sáng tạo của riêng mình.

3 - Viết đề tài lịch sử có khi nào phải dùng phương pháp sáng tác của văn học hậu hiên đại không?

Trong tất cả các dòng văn văn học trong lịch sử văn chương nhân loại thì hậu hiện đại là dòng văn học  ra đời muộn nhất - vào khoảng giữa thế kỷ 20, bắt đầu từ Châu Âu, rồi lan ra các châu lục khác - Dòng văn học này cũng đã làm nên những thành tựu không thể phủ nhận. Một số nhà văn sáng tác theo phương pháp này từng nhận giải Nôbel danh giá như như Albert Camus, Giăng-pôn Sác (Pháp), Gabriel García Márquez (Columbia), Kenzabutro Oe (Nhật Bản), Cao Hành Kiện (Trung Quốc). Trong dòng văn học hậu hiện đại cũng có nhiều trường phái. Trong một số tác phẩm văn chương của tôi, ở một số chương, đoạn, tôi đã chọn phương pháp thuộc trường phái nghệ thuật huyền ảo để thể hiện. Vì sao vậy? Bởi vì ở những chương ấy, đoạn ấy, nếu dùng phương pháp cổ điển hiện thực hoặc hiện đại thì sẽ mang lại hiệu quả không cao. Chẳng hạn như trong truyện ngắn “Thung lũng sỏi”, ở nửa sau của truyện, khi cựu chiến binh Lê Minh Đính về thăm chiến trường xưa, đêm nằm nghỉ trong nhà trọ bên thung lũng sỏi, trong mơ ông gặp người mà ông cần gặp là nữ bác sĩ quân y Nguyễn Thị Nhị Hà đã hiện về nói chuyện với ông. Nếu là phương pháp hiện thực thì không thể có chuyện người chết nói chuyện với người sống.  Nhưng trong nghệ thuật huyền ảo thì hoàn toàn được phép. Nhờ cuộc nói chuyện ấy mà bạn đọc đã vỡ nhẽ ra bao nhiêu điều xẩy ra trước đó, kể cả việc nữ bác sĩ hy sinh ở nơi thung lũng sỏi diễn ra như thế nào. Hay là trong truyện ngắn “Những giọt lệ đỏ thắm”, tôi đã áp dụng nghệ thuật huyền ảo để viết cái đoạn ba cái đầu lâu của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ bay lơ lửng trước mắt công chúa Ngọc Bình (Thân thể Ba anh em nhà Tây Sơn đã bị Gia Long ra lệnh giã thành cám rải xuống sông nên họ chỉ còn cái đầu lâu). Họ đã báo mộng cho Ngọc Bình biết số phận nghiệt ngã và cái chết của nàng trong tay Nguyễn Ánh. Tiểu thuyết “Cuộc đời xa khuất”, tôi viết về triều vua Tự Đức, là triều vua kéo dài nhất trong lịch sử (38 năm), là triều đại vô cùng phức tạp, những mâu thuẫn xã hội đều được đẩy đến đỉnh điểm, triều đình thực hiện hàng chục cuộc sát đạo Thiên Chúa, giặc pháp thôn  tính từng phần, rồi dẫn đến việc nhà vua phải dâng cả đất nước cho chúng. Song cũng ở triều đại này lại sản sinh ra rất nhiều nhân vật anh hùng cái thế và danh sĩ có tầm cỡ như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Đình Chiểu …Nếu tôi chọn phương pháp sáng tác hiện thực cổ điển hoặc hiện đại thì cuốn tiểu thuyết phải dày tới hàng ngàn trang mới nói được cái điều cần nói, mà trong thời đại 4.0 này tôi lại không muốn viết dày đến thế. Tôi chỉ viết 380 trang in nên tôi phải sử dụng phương pháp hậu hiện đại. Toàn bộ tiểu thuyết chỉ diễn ra 5 đêm, mỗi đêm vua Tự Đức đối thoại với một số người, cả người sống và cả người chết. Cả những nhân vật không còn đầu như Cao Bá Quát và một số linh mục, cố đạo. Chỉ thế thôi nhưng nhân vật nào ra nhân vật ấy, từ ngoại hình cho đến tâm tính và thông qua họ, những sự kiện quan trọng nhất, điển hình nhất diễn ra dưới triều vua Tự Đức đều được hóa giải.

L.H.N.

Lê Cảnh Nhạc - Tổng hợp và biên soạn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây