TRUYỀN THUYẾT VỀ TẾT TRUNG THU

Thứ tư - 01/09/2021 08:57
Hồ Sĩ Tá
TRUYỀN THUYẾT VỀ TẾT TRUNG THU

      Sách “ Thuyết Đường” của Trung quốc cho rằng tết Trung Thu bắt đầu từ thời vua Minh Hoàng niên hiệu Duệ Tôn nhà Đường: Nguyên  đêm  rằm tháng Tám năm đó, trăng sáng vằng vặc, gió mát hây hẩy. Nhà vua dạo chơi ngắm cảnh trong vườn thượng uyển. Bỗng một ông tiên râu tóc bạc phơ hiện ra, dùng cây gậy thần làm cầu cho Vua lên thăm cung trăng. Quang cảnh cung Quảng Hàn khác xa nơi trần thế: ở đây có những nàng tiên đẹp như mộng múa điệu Nghê Thường vũ y làm mê hồn người. Nhà Vua đang say sưa với cảnh kỳ thú ấy thì bị ông tiên đưa trở lại cõi trần. Vừa luyến tiếc, vừa để ghi nhớ ngày du nguyệt điện, vua Đường Minh Hoàng đã đặt ra tết Trung Thu. Ngày ấy mọi nhà chăng đèn, kết hoa, bày bánh trái hoa quả  làm lễ trông trăng rất vui vẻ.

      Theo cách “ Thiên văn chí” của Trung Quốc  thì : mặt trăng do nữ thần  Thái  Âm vợ thần Thái Dương (tức thần mặt trời) cai quản. Cung trăng trong suốt như pha lê, hào quang chói lọi nhưng lúc nào cũng lạnh giá như băng. Trong một năm, rằm tháng Tám là ngày trăng sáng và trong trẻo nhất, vì thế người ta làm lễ Thái Âm nữ thần, đồng thời thưởng ngọan cảnh đẹp đêm trăng. Trên cung trăng còn có rất nhiều tiên nữ cùng các vật linh như Thiềm thừ, Thỏ Ngọc và cây quế đỏ.

Thiềm thừ giống hình con cóc nhưng đầu có sừng mềm, bụng có vệt như chữ bát( / \  )   màu đỏ. Tương truyền kiếp trước của Thiềm thừ là Hằng Nga vợ của Hậu Nghệ - vua xứ Hữu cung có tài thiện xạ bách phát bách trúng. Chàng được Vương mẫu Giao Trì ban cho viên thuốc trường sinh bất tử. Một hôm trong lúc chồng vắng nhà, Hằng Nga nổi lòng tham nuốt trộm viên thuốc rồi bay lên mặt trăng xin Thái Âm thần nữ che chở. Về nhà thấy mất cả vợ lẫn thuốc, Hậu Nghệ tức lắm quyết đi tìm. Thời ấy bầu trời có 10 mặt trời, nghĩ rằng vợ trốn ở đó , chàng dương cung bắn rơi 9 , chỉ giữ lại 1, lấy ánh sáng ban ngày và giữ lại  mặt trăng, lấy ánh sáng ban đêm để đi tìm vợ. Chàng có ngờ đâu  cô vợ  Hằng Nga đã đội lốt con Thiềm Thừ ẩn náu trên cung trăng đến tận ngày nay.

 Trên cung trăng còn có Thỏ Ngọc với  sự tích  rất cảm động : Dạo ấy nhiều năm mùa màng thất bát, cảnh hỗn độn xẩy ra đến nỗi người và vật phải ăn thịt đồng loại  để sống. Thỏ là một loài vật yếu đuối, chúng không dám đi xa kiếm ăn  đành rủ nhau quây quanh đống lửa để chống chọi với đói rét.  Trước tình cảnh bi thảm  ấy, một chú thỏ đã  nhảy vào đống lửa tự thui làm thức ăn cho đồng loại. Vừa lúc đó Tây Vương Mẫu đi qua, xúc động trước  nghĩa cử ấy, Thánh Mẫu  nhặt nắm xương còn sót lại trong đống tro tàn, mang lên trời phù phép chú thỏ hình hài bằng ngọc và ban cho được trường sinh bất tử trên cung trăng.
           N
goài hai con vật thiêng này, trên cung trăng còn có cây quế đỏ. Theo “ Thái Bình Hoàn Vũ Ký.” Cây quế này cao  105 thước, đường kính tới vài ba trượng, gỗ và vỏ cứng như thép. Sách chép rằng: xưa có người tên là Ngô Cương đã tu luyện đắc đạo trên thượng giới, nhưng sau đó cậy thế làm nhiều điều càn rỡ bị Ngọc Hoàng đầy xuống cung trăng  giao cho bóc vỏ cây quế đỏ. Nhưng vỏ cây quá cứng, bóc mãi không xong. Bởi vậy đến nay mỗi khi trông trăng, thường thấy bóng người lúi húi bên gốc cây , đó chính là Ngô Cương đang bóc vỏ quế.

    Sang Việt Nam nhân vật Ngô Cương đã được dân gian hóa thành “Thằng Cuội” đi vào ca dao:

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời

    Không giống những lễ tết khác, ảnh hưởng tết Trung Thu của Trung Hoa đối với  ta khá mờ nhạt, không mấy ai quan tâm và biết đến câu chuyện Đường Minh Hoàng lên thăm cung trăng hay việc ngô Cương bóc vỏ cây quế đỏ. người Việt Nam bày cỗ Trung Thu trong cảnh trăng thanh gió mát với hồng đỏ, chuối trứng quốc, cốm xanh non, mía tím, bưởi đào Đặc sản của tháng Tám mùa Thu để tạ ơn trời đất đã ban cho đời những sản vật quý, đồng thời cũng để dâng cúng tổ tiên.

Cũng chỉ đợi đến tết Trung thu , người ta mới làm đèn kéo quân, làm ông tiến sĩ giấy, các loại đèn ông sao, đèn xếp, đầu sư tử, trống, mặt nạ hoặc đồ chơi gò hàn bằng sắt tây mầu  sắc sặc sỡ ở phố hàng Thiếc.

Đèn kéo quân là đặc trưng của tết Trung thu xưa. Đó là bức tường thành cao ngun ngút, đèn trong thành tỏa sáng lờ mờ. Từng đoàn quân giáo gươm tua tủa, rồi ngựa, voi, từng đoàn xe lớp lớp, nhấp nhô trùng điệp chạy tít mù.  nghe như có tiếng voi gầm, ngựa hí, tiếng thét của ba quân của gươm giáo xung sát trận tiền.

 Đèn kéo quân còn gọi là “đèn cù” hình lăng trụ, chia làm 2 phần:

 phần ngoài  cao khoảng 60 cm, đường kính  chừng 50 cm, có 6 mặt được gián căng bằng giấy xuyến, chỉ màu trắng (giấy mầu bạch). Những chiếc nan tre được chuốt kỹ, lắp ráp với nhau bằng những lỗ dùi và thít buộc bằng lạt giang rất chắc, những gióng trụ đèn này được quấn bằng  các loại , giấy trang kim vàng óng ánh được trổ thủng thành những họa tiết để dán vào phần đầu  và phần chân các trụ đèn, khiến  cho đèn kéo quân thêm đẹp và lộng lẫy.

Trong tâm thức ai cũng cầu mong trăng đêm rằm thật tròn, thật sáng, báo hiệu điều mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm nào trăng quầng, nhất là khi có nguyệt thực, người ta cho rằng mặt trăng đã bị gấu ăn những điều rủi ro có thể xẩy ra.

Khi nhân hóa các biểu tượng về vũ trụ người Hoa coi mặt trời là ông, mặt trăng là Bà (chị Hằng). còn người Việt coi Trăng là Ông. Trước lúc phá cỗ người lớn thường hát xướng trước cho trẻ hát theo:

                                 “ông giẳng ông giăng
xuống chơi nhà tôi
có bầu có bạn
có ván cơm xôi
có nồi cơm nếp
 

     Trẻ vừa ăn vừa hát, gõ trống vang lên để cho gấu không dám tới ăn trăng.

    Ngày rằm tháng Tám, suốt từ sáng, nhà nhà làm bánh trái (bánh tẻ bánh đúc là chủ yếu, nếu gói bánh chưng, bánh gai thì làm từ ngày 14), ăn uống vui vẻ sửa cỗ cúng gia tiên. Buổi chiều đi lễ chùa, đền miếu, xem tết Trung thu ở đình làng.Chiều tối mới bày cỗ trông trăng.

 Địa điểm bày : ở sân, hè nhà, có nhà đặt ở giữa vườn - miễn là nơi có ánh trăng dọi tới và có chỗ cho trẻ ngồi chơi phá cỗ, treo đèn, con rối dễ dàng.

Mâm cỗ đặt trên bàn, trên ghế, cả trên chõng tre.

 Xưa kia nhà nào lo cỗ trông trăng cho nhà ấy, vì thế nhà giầu có nhiều đồ chơi quà bánh hơn nhà nghèo, tuy vậy cách bày cỗ vẫn giống nhau ở thể thức bố trí:

Đầu bàn cỗ trông trăng là ông Tiến sĩ giấy ( kê cao hơn một chút) Ông tiến sĩ giấy làm bọn trẻ rất thích: Ông  cao  khoảng 60 cm, đầu đội mũ cánh chuồn có trổ hoa văn. Mặt ngài được làm bằng bột giấy mịn trộn  thạch cao bồi vào một cái khuôn lồi. Chỉ có khuôn mặt và sống mũi được nổi gờ cao. Sau đó quét lên một lần sơn trắng để mặt ngài được mịn màng trắng trẻo.

Việc vẽ mặt tối quan trọng, nét vẽ phải họat và sắc sảo, lông mày và mắt được vẽ hình đen nhánh, riêng đôi môi phải tô sao cho đỏ thắm. Khi lắp ráp toàn bộ vào , ông tiến sĩ nom tươi tắn, mặt sáng như gương, nom thông minh và rất có thần. áo ông làm bằng giấy vàng, giấy đỏ  hoặc giấy tía, bằng giấy trang kim thì càng lộng lẫy.

Người ta gián vào khung đã bẻ sẵn bằng nan tre. Riêng ống tay áo phải vò giấy cho nhầu rồi gấp thật khéo như lối gấp đèn xếp để tạo nếp chùng tự nhiên. công việc làm rất khó.

 

23

Ông tiến sĩ giấy và Ông múa gậy chơi trăng

      Trong mâm cỗ trung thu, ông Tiến sĩ giấy được đặt trang trọng nhất, xung quanh là ngũ quả và bánh trung thu cùng các món đồ chơi khác như đèn ông sao, tò he. Sau khi phá cỗ, các bé sẽ rước ông tiến sĩ đi quanh làng quanh xóm cùng với đoàn rước đèn đầy màu sắc lung linh. Sau đó ông tiến sĩ sẽ được trưng bày tại bàn học để các em luôn được nhắc nhớ về việc học hành.

Bên cạnh ông Tiến sĩ giấy, không thể thiếu hai ông Múa gậy trông trăng. Hai ông múa gậy có ý nghĩa tượng trưng khi con cháu thành đạt sẽ có người bảo vệ, che chở. Khi kết hợp hai ông múa gậy với một ông tiến sĩ sẽ thành một bộ hoàn chỉnh tượng trưng cho "quan" và "lính".

Vào thời bình, ông múa gậy trông trăng chỉ cầm gậy múa chứ không cầm gươm đao đi đánh giặc. Trước đây, theo truyền thống, mặt của ông múa gậy được làm bằng đất sét, sau đó phơi khô và vẽ màu lên. Còn hiện nay, ông múa gậy được các thợ thủ công làm bằng giấy bồi, hai tay cầm gậy dâng lên cao. Phía trên đầu ông là ông trăng tròn được làm bằng giấy màu vàng, khi trẻ con cầm chơi sẽ lắc lắc tạo ra hình tượng ông múa gậy trông trăng rất sinh động. Ngoài ra, hai bên hông ông múa gậy còn đeo hai chiếc túi, một bên đựng gạo, một bên đựng nước, đó vẫn là hình tượng từ xa xưa khi các ông ra trận. Sau khi cúng rằm, hai ông Múa gậy trông trăng được treo ở gần cửa sổ hoặc nơi có gió.

Ông tiến sĩ ngồi trang nghiêm trên bục: áo gấm vàng có nhiều hoa văn hình mây lượn. Quanh cổ áo thêu lưỡng long  chầu nhật. Giữa ngực áo có biểu tượng hổ phù. Dưới vạt áo thêu hình sóng nước. Tay ngài khuỳnh khuỳnh ôm chiếc hộp nạm ngọc. Ngài mặc quần nhiễu trắng, đi hài đen có hoa văn chìm. phía sau có một chiếc lọng vàng tua xanh, tua đỏ. Hai bên là hai lá cờ ngũ sắc đuôi nheo. Phía trước ngài có hai tấm biển “ Tiến Sĩ” viết bằng chữ Hán. Trên mâm cỗ trông trăng rằm tháng Tám ông tiến Sĩ được bày ở vị trí trang trọng

Đồ chơi này mang tính giáo dục sâu xa: con cháu phải bảo nhau số gắng học hành, sau này sẽ đỗ đạt thành Tiến sĩ, Trạng nguyên làm rạng ngời cha mẹ và dòng tộc. Đó cũng  thể hiện tinh thần hiếu học, tinh thần thượng võ, ý thức khuyến học khuyến tài của nhân dân ta.

 Trước mặt ông Tiến sĩ là mâm cỗ. Một quả bưởi tươi nguyên đặt chính giữa mâm, xung quanh là các loại  bánh, làm nhiều loại bánh mang hình Thỏ Ngọc, mặt trăngcác loại bánh nướng, bánh trung thu, rồi cốm vòng thơm thảo bọc ủ nồng nàn trong lá sen tươi. Sau mới đến hồng, na, chuối mía, các con giống tò he Tháng tám cũng là mùa hoa quả tràn trề. Có khi mâm đầy phải để cả ra ngoài mâm.

Nhà có nến thắp nến, nhà khó hơn thì xâu hạt bưởi khô để trẻ thắp chơi khi phá cỗ.

Như có sự phân công tự nhiên, việc sắm cỗ cho trẻ thường là nữ giới - các bà,mẹ, chị. Còn việc bày cỗ thường là nam giới - ông, cha, anh. Vì vậy mới có câu : “Cỗ Trung thu cha bày, mẹ sắm.

Có nhà ông và bố cùng bày cỗ lại hướng dẫn cách sắp xếp cỗ cho đẹp để năm sau trẻ có thể kết hợp hoặc tự làm lấy. Bày cỗ xong người ta để nguyên không thắp hương, không khấn vái gì cả, để nguyên vậy đến khi phá cỗ.

Phá cỗ không có giờ quy định. Khi ánh trăng đã lên cao chiếu sáng khắp nơi, trẻ nhà nào về đông đủ thì nhà ấy cho trẻ phá cỗ. Không khí phá cỗ đông vui,  ông bà, cha mẹ anh, chị cùng quây quần chung quanh mâm cỗ với trẻ, giúp đỡ, hướng dẫn tre còn nhỏ biết cách phá cỗ như cắt bánh, bổ bưởi, róc mía, bóc chuối

Khi phá cỗ trẻ được chăm sóc, được hưởng thụ các sản vật còn tươi nguyên, cỗ không cúng, không phải thừa lộc của ai. được chọn ăn tùy sở thích, được vui đùa thỏa thích trong khi phá cỗ trông trăng.

Ngày nay thường làm tập thể trong cảnh đông vui các trẻ cùng phá cỗ.

Những ngọn nến lung linh, tiếng trống sư tử , tiếng hò hét làm cho đêm trông trăng càng thêm hào hứng và huyền ảo.

Qua bày cỗ phá cỗ trông trăng những tình cảm tốt đẹp của trẻ được xây dựng và củng cố, trẻ biết yêu quý và sẵn sàng bảo vệ thiên nhiên, biết quý trọng giá trị của lao động qua hưởng thụ sản vật quê nhà để nhắc trẻ :

ăn quả nhớ kẻ trồng cây” góp phần vào việc chăm sóc giáo dục trẻ qua tết cổ truyền Trung  thu hàng năm  của Dân tộc.

                              Hà Nội ngày 1/9/2021. HST

 

Nguồn tin: HNV:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây