THÁNG TƯ, QUA MIỀN ĐẤT LỬA QUẢNG TRỊ

Thứ năm - 07/05/2026 08:35
 

          Phan Anh - Thu Hiền

          Chuyến xe về nguồn chuyển bánh từ hai mươi giờ hôm trước, băng qua màn đêm với chặng đường gần sáu trăm cây số đã đưa chúng tôi trở lại với Quảng Trị, vùng đất của những huyền thoại, nơi tuyến đầu “chia lửa” với miền Nam yêu thương của hơn năm mươi năm trước. Từ tuyến đường cao tốc Vạn Ninh - Cam Lộ, xe chúng tôi chuyển hướng sang đường Hồ Chí Minh, rồi dừng lại ở thị trấn Bến Quan cho mọi người ăn sáng và chuẩn bị mọi thứ để vào viếng Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, toạ lạc trên khu đồi Bến Tắt. Lúc này trời đã sáng hẳn, mọi vật nhìn đã rõ ràng, bầu trời Quảng Trị những ngày cuối tháng tư như cao và xanh hơn rất nhiều. Nhìn trên mặt đất, tuyến lửa một thời bị bom cày đạn xới với hàng ngàn hố bom chồng chất lên nhau nay cũng đang mọc da non trở lại bởi những đồi keo xanh biếc hay những đồng lúa đang chuẩn bị chín vàng khiến ai nấy không khỏi vui mừng trước sức sống bền bỉ và dẻo dai của miền đất gió Lào cát trắng, nhưng ẩn ở đâu đó trong lòng vẫn thắc thỏm một câu hỏi khôn nguôi; rằng, bao giờ đất mẹ phai áo bạc màu trên những lưng đồi Trường Sơn dọn hết đạn bom; rằng, vết thương mất mát, chia ly trong lòng người biết bao giờ cho được nguôi ngoai?...

          Theo quốc lộ 15, chẳng bao lâu, khá sớm, chúng tôi có mặt ở nghĩa trang Trường Sơn, đến khu trung tâm đã thấy mấy đoàn cựu chiến binh đang tổ chức nghi lễ dâng hương trên đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Tiếng chuông trầm bổng, khoan thai, thong thả ngân lên trong hương trầm thoang thoảng và hoà vào không gian xanh thẳm của núi rừng Trường Sơn mênh mông càng tôn thêm cái nét trang nghiêm, tĩnh lặng đến tuyệt đối ở nơi yên giấc ngàn thu của hơn mười ngàn linh hồn bất tử. Từ trên đồi cao Bến Tắt, nơi có tượng đài đá trắng, khoét rỗng ba mặt, vừa tượng trưng cho ba miền đất nước vừa cách điệu như hình ngọn lửa đang bùng cháy uy nghiêm, thể hiện khí phách ngàn thu bất diệt của các liệt sĩ, chúng tôi nhìn ra bốn phía thấy trên đầu là bầu trời bát ngát mây xanh, dưới đất là bạt ngàn những ngôi mộ màu trắng san sát, xếp hàng ngay ngắn bên nhau, trải ra vô tận trên các vạt đồi. Không gian như lắng lại, thời gian như ngừng trôi, chỉ có tiếng thông reo rì rào khi khoan khi nhặt như thể cùng đất trời tấu lên bản trường ca hào hùng của sức trẻ đôi mươi huyền thoại, về một thời quyết tử cho tổ quốc quyết sinh đầy oanh liệt, khiến lòng cho người không khỏi thắt lại.

          Nghĩa trang rộng quá, có lẽ rộng nhất nước (ngự trên ba quả đồi với hơn một trăm bốn mươi ngàn mét vuông), hơn mười ngàn ngôi mộ, có lẽ cũng là nghĩa trang có nhiều mộ nhất (mười ngàn ba trăm ba mươi ba ngôi mộ), anh em trong đoàn có chia nhau đi thắp hương cả ngày cũng không thể nào hết nên chúng tôi tập trung dâng hương trên ngôi nhà chung (đài Tổ quốc ghi công) của các anh hùng liệt sĩ rồi ai nấy tản ra, đi về khu vực sắp xếp mộ chí liệt sĩ theo các tỉnh, thành để chiêm bái, thắp hương. Ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, ngoài khu tưởng niệm trung tâm, khu dành riêng cho sáu mươi tám liệt sĩ chưa xác định được thông tin, hơn mười ngàn liệt sĩ được an táng thành mười khu vực mộ theo quê quán của các liệt sĩ. Mỗi khu vực là một tỉnh, thành; có nhà tưởng niệm và được thiết kế theo đặc trưng văn hoá của từng miền quê cho nên đến nghĩa trang Trường Sơn người ta như được sống lại trong một hồn quê Việt Nam thu nhỏ. Có lẽ với kiến trúc ấy, phải chăng những người làm nghĩa trang muốn tạo cảm giác quê hương luôn ở bên các liệt sĩ; các liệt sĩ sống mãi cùng những cây đa, mái đình thân thuộc của quê hương ... Và, cũng như những lần thăm viếng trước, tôi tìm về khu mộ liệt sĩ Hà Nội, thắp hương cho một liệt sĩ người cùng làng và một liệt sĩ người cùng ngành, thầy giáo của một trường học trong huyện. Thành tâm, thắp một nén nhang cho người nằm dưới mộ, ngắm nhìn những tấm bia ghi tuổi đời còn rất trẻ mà nghĩ đến sự nghiệp và biết bao hoài bão của thầy vẫn đang còn mãi dở dang ... Giữa khói nhang nhạt nhoà, quấn quện bay lên và hoà vào trong cái nắng, cái gió Trường Sơn linh thiêng mà chẳng nói nên lời nhưng hẳn trong sâu thẳm, lòng người ai cũng thấy chất chứa những niềm đau … hun hút nỗi buồn. Rồi cứ thế nấc lên trong lòng … yêu lắm … yêu lắm Trường Sơn ơi; … thương lắm … thương lắm Trường Sơn ơi!

          Tạm biệt Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, chúng tôi đến với địa đạo Vịnh Mốc, một trong những ngôi làng huyền thoại, tiêu biểu cho sức mạnh và ý chí quật cường của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, không chịu lùi bước trước đế quốc Mỹ xâm lược. Nằm bên bờ biển Đông, cách cửa Tùng khoảng tám cây số, trước làng là đảo Cồn Cỏ nên Vịnh Mốc có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Đây không chỉ là nơi chi viện nhân lực, vật lực để trực tiếp bảo vệ đảo Cồn Cỏ tiền tiêu mà còn là một địa điểm quan trọng để tập kết, chi viện lương thực và vũ khí cho chiến trường miền Nam bằng đường Biển. Và cũng bởi cái vị trí hữu dụng như thế mà ngay từ những ngày đầu của chiến dịch leo thang đánh phá miền Bắc (8/ 1964) Vịnh Mốc nói riêng và nhiều xóm làng dọc theo cửa Tùng nói chung đã bị không quân và hải quân Mỹ đánh phá ác liệt. Rồi cũng như bao làng khác ở Vĩnh Linh, kẻ thù đánh phá dữ dội trên mặt đất, dân làng Vịnh Mốc lại chui vào sâu trong lòng đất, bám trụ để giữ làng, giữ nước. Người làng Vịnh Mốc đã “quân sự hoá toàn dân, công sự hoá toàn khu vực”.

          Theo đó, bắt đầu từ năm 1965 đến năm 1968, người dân Vịnh Mốc bắt đầu đào hầm và làm địa đạo cùng với người dân huyện Vĩnh Linh, trong đó Vịnh Mốc là tiêu biểu nhất, nổi tiếng nhất. Với mười tám nghìn ngày công, một ngày bốn ca, thay phiên nhau liên tục, từ bảy giờ đến hai mươi mốt giờ, người dân Vịnh Mốc đã tạo nên một kỳ tích: làm được hệ thống địa đạo “dài một ngàn sáu mươi mét (chưa bao gồm các ngách, căn hộ..., nếu tính tổng chiều dài sẽ lên tới hai ngàn ba tư mét); chiều cao đường hầm từ khoảng một mét bẩy đến một mét tám , gồm có mười ba cửa ra vào (có sáu cửa được thông lên đồi, bảy cửa thông ra hướng biển). Dọc hai bên đường hầm, có khoét các ngách nhỏ đủ sinh hoạt cho hai đến bốn người. Trong hầm còn có hội trường (sức chứa từ năm mươi đến sáu mươi người), làm nơi hội họp, xem phim, biểu diễn văn nghệ... và một số công trình khác như: bảng tin, nhà hộ sinh, ba giếng nước, nhà vệ sinh, trạm phẫu thuật, trạm xá, bếp nấu ăn (bếp Hoàng Cầm). Hệ thống đường hầm và các công trình trong lòng đất của địa đạo Vịnh Mốc gồm ba tầng: Tầng một có tổng chiều dài gầm bốn trăm hai mươi hai mét, rộng từ từ chín mươi phân đến một mét mốt và chiều cao từ một mét sáu đến một mét bảy lăm, có độ sâu cách mặt đất từ tám đến mười một mét, đường hầm có dạng hình vòm, lòng đường, vách, trần đào khá phẳng... Tầng hai có độ sâu cách mặt đất mười một đến mười lăm mét, chiều dài năm trăm linh tám mét, cao từ một mét sáu đến một mét chín tư, rộng từ tám mươi phân đến một mét mốt. Đường hầm có dạng hình vòm cuốn với kết cấu đất đỏ bazan vững chắc.. Trục chính tầng ba chạy chủ yếu theo hướng Nam rồi vòng qua hướng Đông, dài hơn một trăm ba mươi mét, cao từ một mét sáu đến một mét bảy tư, rộng từ tám mươi phân đến một mét mốt, trần hình vòm cuốn, sâu cách mặt đất từ hai mươi mốt đến hai mươi hai mét rưỡi, có hai giếng nước, một nhà tắm, năm căn hầm được bố trí so le ở hai bên trục chính, hai hệ thống cửa (số mười và số mười hai) thông ra biển và cũng có hệ thống đường trục để nối giữa các tầng hầm với nhau. Ngoài hệ thống đường hầm, địa đạo trong lòng đất, địa đạo Vịnh Mốc còn có các công trình trên mặt đất như: giao thông hào, ụ pháo, … (theo Hồ sơ Di tích Lịch sử Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh).

Bia di tích lịch sử Bến phà Gianh    Trên cây cầu giới tuyến bắc qua sông Bến Hải

Bia di tích lịch sử Bến phà Gianh                                                       Trên cây cầu giới tuyến bắc qua sông Bến Hải

Viếng nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn
                                                         Viếng nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn
 

          Về thăm Vịnh Mốc hôm nay, bước đi trong lòng địa đạo hun hút, nghe kể chuyện xưa, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên và khâm phục vô cùng trước những đôi tay, khối óc và tinh thần bền bỉ, kiên gan của người dân nơi đây trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Không có la bàn, chỉ với cuốc xẻng thô sơ làm từ xác máy bay của kẻ thù và lắng nghe những thanh âm vọng lại từ trong lòng đất mà người Vịnh Mốc đã đào và kết nối hàng ngàn mét địa đạo, giao thông hào; làm thành những nhà ở, bếp ăn, giếng nước, bệnh viện, trường học, hội trường, nơi làm việc … để đánh lai giặc Mỹ. Vừa đi vừa nghĩ, có lẽ, ngoài Củ Chi, ở Việt Nam ta sẽ chẳng nơi nào có được hệ thống địa đạo như ở Vĩnh Linh, đặc biệt là Vịnh Mốc. Rồi lại thoảng nghĩ, bây giờ, ở Vịnh Mốc, những tưởng nếu có sự trợ giúp của máy móc hiện đại cũng khó có thể làm được hệ thống địa đạo như thế, chứ đừng nghĩ nó lại là một sản phẩm của chiến tranh; được ra đời trong hoàn cảnh gian khổ của cuộc sống thời chiến. Nhớ lại, người ta ước tính, hồi ấy, bình quân mỗi người dân Vĩnh Linh phải gánh trên mình khoảng bẩy tấn bom đạn, trong đó Vịnh Mốc là trọng điểm, hẳn sẽ phải chịu đựng nhiều hơn. Vậy mà, để đối phó với ảo vọng đưa đưa bờ Bắc sông Bến Hải trở về “thời kỳ đồ đá”, bất chấp hàng nghìn chuyến bay ném bom dải thảm của B52 và hàng vạn quả đạn pháo cao xạ hạng nặng đêm ngày cày xới trên mặt đất Vĩnh Linh, quân và dân Vịnh Mốc đã làm nên được một huyền thoại ở trong lòng đất, bên bờ biển Cửa Tùng. Đó là địa đạo. Hệ thống địa đạo ấy đã thực sự trở thành một ngôi làng kháng chiến, một luỹ thép anh hùng, bất khuất, kiên cường ở sát ngay bên vĩ tuyến sông Bến Hải.

          Viếng nghĩa trang Trường Sơn, thăm địa đạo Vịnh Mốc sau hơn nửa thế kỷ thống nhất đất nước, non sông liền một dải, có nghĩa là chiến tranh đã lùi rất xa nhưng hàng nghìn nấm mồ trắng trên ghi tuổi đời còn rất trẻ của những chàng trai trên khắp mọi miền của Tổ quốc; những kỷ vật chiến tranh và biết bao dấu xưa còn được lưu lại trong lòng đất bên bờ sông giới tuyến đã khiến người ta không chỉ được sống lại với những năm tháng bi tráng, hào hùng, oanh liệt của lịch sử dân tộc mà còn có cả những ngận ngùi, nhớ thương, xót xa man mác. Đứng bên cửa hầm nhìn ra biển Đông chúng tôi thấy ánh nắng vàng chảy dài trên bờ cát trắng, bầu trời Quảng Trị xanh cùng màu nước biển nhưng trong lòng vẫn thấy nao nao. Cứ thế, mê mải dõi theo bóng nắng chùm lên những ngọn sóng xôn xao xô bờ, bất chợt lại nhớ đến hình ảnh mỹ miều “chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển” ở một nơi từng được ví von là “Bà chúa của các bãi tắm” của một nhà văn từng tả về biển Cửa Tùng mà ngỡ rằng đạn bom đâu có thể rơi được ở cái xứ này. Nghĩ thế mà hoá không phải thế!

          Đến đất lửa Quảng Trị lần này chúng tôi lại thong dong thả bước trên cây cầu giới tuyến, hơn nửa thế thế kỷ đã đi qua mà không khí náo nức của ngày hội thống nhất non sông dường như vẫn còn nguyên vẹn. Ngắm nhìn từng đoàn người náo nức nối đuôi nhau dạo bước trên cây cầu hai màu mà trong tôi lại vọng về câu thơ của Tế Hanh ngày nào: “Tôi chảy ngày đêm không nghỉ/ Hai bờ Nam Bắc nhìn đau/ Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu” (Nói chuyện với sông Hiền Lương) mà không khỏi nghẹn ngào. Ước hẹn hai năm đâu có ngờ lại trở thành hai mươi mốt năm trường khổ đau, bao người đã phải sống trong đằng đẵng nhớ nhung. Hơn năm mươi năm nay, bờ Hiền Lương không còn đỏ lửa, đôi bờ không phải nhìn đau, màu xanh Quảng Trị lại in vời trên sóng nước Bến Hải nhưng những vết thương lòng người hẳn đâu dễ nguôi ngoai. Từ vạch sơn phân chia ranh giới giữa cây cầu Hiền Lương chúng tôi nhìn về đôi bờ, bất giác tôi lại nghĩ về những dòng sông ở Quảng Trị. Có lẽ, không có nơi nào lại có những dòng sông gắn liền với những sự chia cắt đau thương của đất nước như ở nơi đây. Thế kỷ hai mươi là sông Bến Hải nhưng trước đó, hồi thế kỷ mười bảy, mười tám, sông Gianh trên đất này cũng từng là ranh giới giữa đàng Trong (chúa Nguyễn) và đàng Ngoài (chúa Trịnh) trong suốt một thế kỷ rưỡi. Bởi thế cũng không phải là nói quá nếu bảo rằng những dòng sông ở Quảng Trị là những chứng nhân của lịch sử giao tranh; sông Bến Hải, sông Gianh và cả dòng sông Nhật Lệ nữa.

          Sông Gianh và sông Nhật Lệ gắn liền với phòng tuyến Luỹ Thầy. Giai đoạn Trịnh - Nguyễn, sông Gianh là con hào tự nhiên, phòng tuyến thứ nhất, Luỹ Thầy (một hệ thống tường thành cao mười hai thước, dài mười dặm, trải từ núi Đầu Mâu đến cửa sông Nhật Lệ, có hình cong như cầu vồng, mặt luỹ khá rộng, voi ngựa có thể đi lại được, cách bốn mươi thước lại có một pháo đài đặt súng thần công; công trình này được làm từ năm 1630 đến năm 1634 và do danh sĩ Đào Duy Từ thiết kế chỉ huy thi công) là phòng tuyến thứ hai. Hơn năm mươi năm giao tranh (1620 – 1672), sông Gianh chứng kiến chín lần vượt sông của hai nhà Trịnh – Nguyễn (chúa Trịnh có bảy lần, chúa Nguyễn có hai lần) mà bất phân thắng bại. Và cũng nhờ có những phòng tuyến này mà nhà Nguyễn mới tồn tại được tới chín chúa, mười ba vua. Tất nhiên những lần hai bên vượt sông qua lại chinh chiến ấy, mặt nước các dòng sông hẳn không còn giữ được nguyên vẹn màu xanh trời Quảng Trị.

          Ngược dòng lịch sử, sông Gianh đâu chỉ là ranh giới phân chia của hai nhà Trịnh – Nguyễn. Trước đó, vùng đất Quảng Trị, sông Gianh cũng đã không ít lần chứng kiến sự giao tranh giữa hai nước Chăm Pa và Đại Việt. Rồi trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (1285), đại quân của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh vào phủ Bố Chính đã bị rơi vào thế trận vườn không nhà trống, khiến cho ý đồ tiến nhanh ra Thăng Long hội quân với cánh quân của Thoát Hoan thất bại. Thời Hậu Trần và trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhân dân bên đôi bờ sông Giang đã hợp sức cùng với nghĩa quân của Trần Quý Khoáng, Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ chống lại giặc Minh, giải phóng phủ Tân Bình. Còn nữa, trong phong trào Cần Vương, dặm dài sông Giang cũng đã trở thành một trong những căn cứ kháng chiến. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bến phà Gianh một lần nữa trở thành “toạ độ lửa” và đây cũng là nơi khởi đầu cho của những chuyến tàu không số của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển. Gần với sông Gianh là sông Nhật Lệ. Đây cũng là dòng sông của lịch sử, cách đây hơn mười thế kỷ, năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành, tại cửa sông Nhật Lệ, Lý Thường Kiệt đã bắt sống Chế Củ rồi đem về cho Đại Việt ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh. Gần nhất, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cửa sông Nhật Lệ cùng với bến phà Gianh cũng trở thành một trọng điểm bắn phá điên cuồng của giặc Mỹ xâm lược. Và cũng trong những năm tháng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh này bến sông Nhật Lệ ở Đồng Hới cũng đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gắn liền với hình ảnh bất tử của mẹ Suốt, đêm ngày hiên ngang chèo đò đưa bộ đội vượt sông đi chiến đấu: “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung/ Gió lay như sóng biển tung trắng bờ…/ Gan chi, gan rứa, mẹ nờ?/ Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?” (Mẹ Suốt – Tố Hữu).

          Lan man, ta còn có thể kể biết bao câu chuyện hào hùng lẫn bi thương của các dòng sông trên mảnh đất Quảng Trị qua những thăng trầm theo suốt chiều dài của lịch sử dân tộc. Nhưng hãy tạm gác lại những câu chuyện của chiến tranh, của chia cắt đôi miền Nam – Bắc thì những dòng sông ấy, trước tiên, nó hiện lên trước mắt khách bộ hành với đầy đủ những vẻ đẹp tuyệt mỹ mà thiên nhiên đã ban tặng cho Quảng Trị. Bất kể, ngày hay đêm, làn nước trong xanh của sông Gianh, sông Nhật Lệ lúc nào cũng dư sức quyến rũ và làm xao xuyến, say đắm biết bao người. Ấy vậy, ngắm những dòng sông uyển chuyển uốn mình qua các núi đá, đồng lúa đẹp đến nao lòng như thế nhưng chẳng hiểu sao đứng bên đôi bờ, nhìn ra mênh mang sóng nước, người ta vẫn thấy thoang thoảng một nỗi buồn, rờn rợn. Không hiểu do núi sông chướng khí hay định mệnh của những cuộc giao tranh đã tạo ra những cảm giác. Nghĩ thế, bất chợt chúng tôi lại nhớ đến những năm làm Cai Bạ của thi hào Nguyễn Du khi ở Quảng Bình. Phải chăng những câu thơ “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia” hay cảnh “Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” trong “Truyện Kiều” nổi tiếng của người cũng đã được gợi lên từ hình ảnh của những đồi cát ở Phú Quang, Bảo Ninh, Hải Thành hay những bóng thuyền thâos thoáng ngoài xa ở cửa biển Nhật Lệ, nơi Nguyễn Du từng thả bước, đứng ngắm ra cửa biển trong mỗi buổi chiều hôm. Những vần thơ tả cảnh của Nguyễn Du đẹp như bức tuyệt bút nhưng cũng buồn đến não lòng. Hình như, cái nỗi niềm mênh mang ấy chẳng phải chỉ có ở Nguyễn Du. Trước đó, hồi thế kỷ mười lăm, ông vua hay thơ Lê Thánh Tông, trong một lần đi duyệt thuỷ quân qua đây cũng đã từng hạ bút thốt lên trước cái hoang vu, lạnh lẽo của một cõi biên thuỳ: “Hiểu khóa lâu thuyền độ vĩ lư/ Phiên phiên chinh bái trú Hà cừ/ Sa hàn địa lão tà dương ngạn/ Sương lẫm phong phi túc thảo khư” (dịch: Bừng sáng, lâu thuyền qua sông sớm nhanh chóng đóng quân ở Hà Cừ/ Cờ chiến bay phấp phới/ Cát lạnh đất cằn bóng chiều xế bên sông/ Sương mù giá lạnh gió đêm thổi trên đồi hoang). Sau này, giữa thế kỷ mười chín, trong một lần vua Thiệu Trị tuần giá Bắc Hà cũng đã từng viết: “Bích huyết dư quang lưu Nhật Lệ/ Hoàng trần việt chướng nhiễm Đâu Mâu” (dịch: Dòng Nhật Lệ đầy máu xương chiến sĩ vẫn xanh biếc sáng chói/ Núi đâu Mâu nhuốm bụi vàng càng rõ là bình phong vững).

Lặng lẽ và kiên cường; thơ mộng và man mác, ấy là địa thế mà tạo hoá và lịch sử đặt lên mình Quảng Trị. Khúc ruột miền Trung ấy, mảnh đất của những giới tuyến ấy, nơi của những đầu sóng ngọn gió, của một thời tuyến lửa anh hùng trong lòng người dân Việt Nam hẳn sẽ mãi mãi “trăm mến ngàn thương”!

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây