
Nhà văn Nguyễn Hữu Thăng
Ngày 9/12/2025, dòng tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng đã được UNESCO chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là tin vui lớn đến nhân dân cả nước, đặc biệt là với người dân quê hương Đông Hồ. Một làng quê nhỏ, nghèo khó khi xưa, vậy mà đã bảo tồn và phát triển được dòng tranh trở thành di sản văn hóa của nhân loại! Là người con gốc gác làng tranh Đông Hồ, tôi cũng như mọi người dân quê hương vô cùng xúc động và thấy đầy vinh dự, tự hào!
Người dân Việt Nam không mấy ai không biết đến câu thơ của nhà thơ Hoàng Cầm:
Theo các chuyên gia nghiên cứu, dòng tranh Đông Hồ đã có từ ít nhất 500 năm trước. Thực ra, tranh Đông Hồ không chỉ có “gà lợn” mà có đến hàng trăm bản tranh, chủ đề hết sức phong phú: Có tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật, tranh sinh hoạt, tranh chữ (chữ Nho được tạo nét chữ bằng hình họa rồng phượng, chim muông, bút lông, nghiên mực, mây nước...). Tranh Đông Hồ cũng không chỉ “trên giấy điệp”, mà ngoài tranh điệp in khắc gỗ, còn có tranh vừa in khắc gỗ, vừa vẽ tay; có tranh hoàn toàn vẽ tay trên giấy, trên vải, có loại nhiều màu, có loại đen trắng thủy mạc, lại có tranh trổ giấy (làng tranh gọi là trổ lé)... Tuy nhiên, phổ biến nhất và nổi tiếng nhất vẫn là tranh điệp in khắc gỗ trên giấy dó nhiều màu (thường 4-5 màu).
Điều độc đáo có một không hai ở Việt Nam cũng như trên thế giới là nguyên liệu giấy điệp và màu tranh: Vỏ con điệp (một loại sò biển, thường khai thác từ Quảng Ninh) qua nhiều năm bị phong hóa thành vôi, được rửa sạch, tán thành bột mịn, trộn bột gạo nếp đun lên, khuấy đều, phết trên giấy dó làm nền, các chất liệu màu in tranh hoàn toàn lấy từ thiên nhiên, như màu đỏ từ sỏi son, màu xanh từ lá chàm, màu vàng từ hoa hòe, màu đen từ than lá tre... Nền bột điệp khiến bức tranh “sáng bừng” lấp lánh, lung linh ánh xà cừ, vừa đẹp, vừa bền màu qua thời gian.
Khi nói đến đặc điểm tranh dân gian Đông Hồ, tôi chợt nhớ đến lời thoại của một nhân vật trong phim truyện “Sân tranh”: Việt Nam chỉ có một Đông Hồ, không có làng Đông Hồ thứ hai!
Đó cũng là lý do vì sao Di sản văn hóa phi vật thể tranh Đông Hồ “cần bảo vệ khẩn cấp”. Dòng tranh quý hiếm này chỉ có ở làng Đông Hồ mà lại đang đứng trước nguy cơ bị thất truyền! Từ một làng nghề mấy trăm năm cả dân làng làm tranh, nay cả làng đã chuyển sang nghề vàng mã, chỉ còn lại 3 gia đình thuộc 2 dòng họ Nguyễn Hữu và Nguyễn Đăng còn duy trì được nghề tranh, trong đó công lao hàng đầu thuộc về 5 nghệ nhân Ưu tú được Chủ tịch nước phong tặng.





Nghệ nhân Ưu tú đầu tiên của làng tranh Đông Hồ là Nguyễn Hữu Sam, anh họ nội tộc của tôi, đã mất năm 2016, thọ 84 tuổi. Cụ Sam sinh ra trong một gia đình có truyền thồng làm tranh nhiều đời, từ nhỏ đến khi qua đời cụ luôn gắn bó với nghề tranh. Vào thập niên 60 - 70 thế kỷ trước, cụ được dân làng và chính quyền tín nhiệm giao làm Tổ trưởng sản xuất tranh dân gian của làng Đông Hồ. Trong hơn 20 năm, Tổ làm tranh đã sản xuất hàng triệu bức tranh, tiêu thụ khắp trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Nhưng đến thời kỳ cuối thập niên 80, đất nước bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường, tranh dân gian ngày càng ít khách mua, các gia đình trong Tổ làm tranh lần lượt bỏ nghề, chuyển sang nghề vàng mã để kiếm sống. Nhiều ván khắc in tranh bị vứt bỏ, thậm chí dùng làm chuồng lợn chuồng gà. Khi đó, nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam vẫn chịu khó sưu tầm, lưu giữ và phục chế được hàng trăm ván khắc cổ, vẫn kiên trì, cặm cụi, tâm huyết hành nghề của tổ tiên để lại, đồng thời tận tụy truyền nghề cho con cháu. Ngoài việc sưu tầm, sản xuất tranh dân gian, cụ Sam còn sáng tác một số tác phẩm chủ đề mới mang bản sắc tranh Đông Hồ như: Tấm áo mẹ vá năm xưa; Tố nữ quan họ; Đến hẹn lại lên…
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam rất vinh dự nhiều lần được gặp gỡ và tặng tranh các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Cụ là hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, hội viên Hiệp hội UNESCO, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bắc Ninh nhiều nhiệm kỳ. Cụ đã được Nhà nước và các tổ chức ngành nghề trao tặng nhiều phần thưởng cao quý. Đến năm 2016, khi vừa mất, cụ đã được truy tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Trong các con cháu cụ Sam được cụ truyền nghề, có con dâu lớn Nguyễn Thị Oanh và con trai thứ ba Nguyễn Hữu Quả có tay nghề nổi trội hơn cả. Năm 2020, bà Oanh và ông Quả cùng được Chủ tịch nước trao danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1960, thuộc dòng họ Nguyễn Đăng trong làng, một dòng họ từng có nhiều nghệ nhân tranh nổi tiếng một thời đã quá cố như nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm, Nguyễn Đăng Sần, hay hiện tại là nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Đăng Tâm. Từ nhỏ bà Oanh đã làm quen với nghề làm tranh. Khi trở thành con dâu cụ Sam, bà Oanh đã được bố chồng dìu dắt, truyền nghề và bà đã thuần thục hầu hết các công đoạn của nghề tranh. Đặc biệt, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh rất có năng khiếu sáng tác mẫu tranh mới theo phong cách dân gian Đông Hồ. Đến nay bà đã sáng tác được hàng chục tác phẩm như “Chợ tranh ngày tết”, “Chợ quê”, “Hát thuyền”, “Lưỡng chuột đón xuân”, tranh di tích lịch sử văn hóa quốc gia trên địa bàn tỉnh như chùa Bút Tháp, chùa Dâu, đền Đô… góp phần làm phong phú thêm dòng tranh dân gian của quê hương. Trợ giúp cho công việc của bà Oanh là chồng bà, nghệ nhân cấp tỉnh Nguyễn Hữu Hoa, nguyên cán bộ Sở văn hóa - Thông tin Bắc Ninh cùng các con cháu được bà trực tiếp truyền nghề.
Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả, sinh năm 1963, là người con trai được cụ Sam tin tưởng nhất vì ông thông minh, tài hoa, vừa có năng khiếu, vừa có tâm huyết, yêu nghề, siêng năng, hội đủ các yếu tố để người cha yên tâm truyền nghề. Ông Quả từng tốt nghiệp Đại học Tài chính, nhưng theo lời khuyên của cụ thân sinh, ông đã chuyển hẳn sang nghề làm tranh dân gian truyền thống. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã truyền lại cho con trai tất cả bí quyết nghề tranh, các bản khắc, mẫu vẽ truyền thống quý giá. Ông Quả đã dần thành thục tất cả các công đoạn, từ vẽ mẫu, đục bản khắc đến pha màu, in tranh... Tay nghề của ông không thua kém gì của người cha. Ông Quả còn học cả chữ Hán Nôm để hiểu sâu về ý nghĩa nội dung nghệ thuật từng bức tranh cổ in chữ Hán Nôm, có thể thuyết trình trong các hội nghị nghiên cứu chuyên ngành và giới thiệu cho đông đảo du khách tham quan.
Hơn 40 năm gắn bó với nghề tranh dân gian Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đã lưu giữ được khoảng 600 bản khắc gỗ cả cũ lẫn mới. Ngoài ra, ông cũng sáng tác được thêm một số tranh mới theo nghệ thuật tranh điệp Đông Hồ truyền thống như: Hổ uy trấn sơn hà, Mèo đón xuân… Ông cũng quan tâm dìu dắt, hướng dẫn truyền nghề cho con trai, con dâu, cháu nội. Đến nay cho trai lớn Nguyễn Hữu Đạo có tay nghề cao, đã trở thành nghệ nhân cấp tỉnh, từng nhận được giải thưởng của một số tổ chức ngành nghề nghệ thuật.
Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế là chú họ tôi (cụ bà thân sinh là em ruột ông nội tôi), năm 2025 cụ vừa mừng thọ tuổi 90, cũng làm quen với nghề tranh từ thời niên thiếu. Cụ đã từng được đào tạo tại trường Quốc gia Mỹ nghệ (nay là trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp), từng công tác nhiều năm tại Nhà Xuất bản Văn hóa dân tộc, có điều kiện để nghiên cứu sâu về nghệ thuật tranh dân gian. Trong suốt quá trình học tập và công tác, cụ vẫn luôn tranh thủ thời gian sản xuất tranh Đông Hồ truyền thống. Năm 1992, khi nghỉ hưu, cụ trở về quê đã cùng các con cháu tập trung sức khôi phục nghề tranh. Hơn 20 năm qua, cụ đã cùng gia đình thành lập công ty, xây dựng Trung tâm Bảo tồn và phát triển tranh dân gian Đông Hồ. Đây thực sự là một bảo tàng sống của gia đình, quy mô hoành tráng, rộng đến 6000 mét vuông, có nhà khánh tiết, khu sản xuất tranh, khu trưng bày hàng trăm bộ tranh rực rỡ, hàng trăm ván khắc in tranh lớn nhỏ. Cụ Chế cũng là nghệ nhân sáng tác được một số tranh Đông Hồ chủ đề mới như Bác Hồ với các cháu thiếu nhi, bắt sống giặc lái Mỹ...
Trong các con của cụ Nguyễn Đăng Chế, nổi trội có người con trai út Nguyễn Đăng Tâm, sinh năm 1972, suốt đời chuyên sâu, gắn bó với nghề tranh. Không những thừa hưởng kinh nghiệm nghề nghiệp gia truyền từ người cha, ông Nguyễn Đăng Tâm còn tiếp thu bí quyết nghề tranh gia truyền từ bà vợ Trần Thị Tâm, con gái nghệ nhân có tên tuổi Trần Nhật Tấn (cụ Tấn đã qua đời gần hai mươi năm trước). Vì vậy, nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm có nhiều thuận lợi để nâng cao tay nghề, đến năm 2024 ông đã được nhận danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú của Chủ tịch nước.
Nhiều năm qua, 3 gia đình làm tranh dân gian truyền thống Đông Hồ luôn là địa điểm tham quan, du lịch của đông đảo du khách trong và ngoài nước, được nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến thăm hỏi, động viên. Đây cũng là nơi được các nhà nghiên cứu, thầy trò các trường nghệ thuật và các trường phổ thông tìm đến nghiên cứu, tham quan, thử nghiệm nghề tranh... Các nghệ nhân còn thường xuyên được mời tham gia trình diễn, giới thiệu tranh tại các lễ hội, hoạt động giao lưu, triển lãm trong tỉnh Bắc Ninh và cả ở nhiều nơi trong nước và nước ngoài, góp phần quảng bá nghệ thuật quý giá, mang đậm bản sắc dân tộc.
Gần đây, tại làng tranh, chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng Bảo tàng Tranh dân gian Đông Hồ khang trang đồ sộ. Bảo tàng đã trưng bày, giới thiệu những bức tranh Đông Hồ tiêu biểu, những tượng, ảnh tư liệu về lịch sử di sản nổi tiếng này. Hình ảnh của các nghệ nhân Ưu tú nghề tranh được trưng bày trang trọng, nổi bật.
Là người con của quê hương Đông Hồ, tôi cũng như bà con làng quê này vô cùng cảm kích và biết ơn những nghệ nhân chân chính của làng nghề, đã có công gìn giữ, duy trì và phát triển một nghề nghệ thuật cao quý mà bao thế hệ nghệ nhân của làng đã để lại cho quê hương và đất nước chúng ta./.
--------------------------------------------------
Ảnh trên: 5 nghệ nhân Ưu tú: Nguyễn Hữu Sam, Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Hữu Quả, Nguyễn Đăng Tâm (Ảnh của Nguyễn Hữu Thăng và đồng nghiệp)
N.H.T - 11/12/2025Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Ngày 24/11 hằng năm là NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM
BA BÀ CỤ Ở CUỐI XÓM
ĐỨA BÉ
ĐỌC THƠ CÙNG NHAU
Khi cái đẹp còn đang ngủ yên
GIỮA NHỮNG ĐƯỜNG BIÊN
THƯƠNG NHAU NGÀY TẾT
CHI HỘI 3 - HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TỔNG KẾT CT NĂM 2025
CHÂN MÂY (1)
NHẠC SĨ ĐOÀN BỔNG ĐÃ ĐI VỀ DÒNG SÔNG ẤY…
CUỘC THI tìm hiểu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII,
Đông vui như chợ quê ngày Tết
Mẹ tôi và những vật dụng nhà nông xưa cũ
Chờ đợi
Mùa này cải đã ra hoa