Sáng tác của Phạm Ngọc Tâm Dung

Thứ năm - 12/08/2021 10:31
Ảnh minh họa: ST
Ảnh minh họa: ST

 

            MƯA THU

                                 Tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung

         Nếu là đêm mưa trong mùa đông lạnh giá, người đàn bà ấy đối phó với ông giời khe khắt bằng cách kéo tấm mền dày sụ, bông xốp mà trùm kín đầu, tự thưởng cho mình sự ấm áp, dễ chịu, để tiếng gió mơ hồ ngoài kia mặc sức đánh vật cùng mưa... rồi giấc ngủ đã quyến chị về với những giấc mơ bồng bềnh, mặn nhạt...

Thế mà chị lại... nghiền mưa thu. Bởi, mưa mùa thu không chỉ làm cho con gió heo may vốn se khô mềm mại, mướt mát, nó còn có sức ma mị, dẫn dụ, quyến rũ người ta bằng sự rả rích, khoan nhặt, u sầu... Chị ấy rất thích những câu thơ tuyệt hay của Tản Đà Thi sĩ:

 
Mưa mưa mãi, ngày đêm rả rích
Giọt mưa thu dạ khách đầy vơi
Những ai mặt bể chân giời
Nghe mưa, ai có nhớ nhời nước non...

Mưa làm cho ta nhớ nhiều hơn, nhớ những câu chuyện lâu chưa kể, những con người lâu chưa gặp, những khoảng trời lâu chưa tìm về. Ai Bảo Nhớ dai là cái khổ của người đàn bà, chị ấy cho là đúng. Người đàn bà nơi chị, thường tự gậm nhấm những buồn vui và cũng tự làm khổ mình bằng nỗi nhớ dai dẳng triền miên. Chị đã từng có thời kỳ sống ở Sài Gòn. Mưa Sài Gòn thường xen lẫn giữa những buổi nắng to. Mưa giãy đành đạch một lúc lại tạnh ngay, in hệt tính cách của người đàn bà Sài Thành yêu mãnh liệt như một tia chớp. Mưa thu Miền Bắc, kéo dài từ ngày này sang ngày khác, nó âm ỷ, dầm dề mà thổn thức, bồn chồn... làm cho người ta không quên được nó, cũng in hệt như tính cách của người đàn bà Châu Thổ Sông Hồng. Chị vốn là người ưa đơn giản, tên gọi cho mọi cảm xúc của chị cũng chẳng giống ai: -Tâm hồn người đàn bà tựa như một căn nhà có nhiều phòng. Có những “phòng thiết yếu”, như kiểu phòng ăn, phòng ngủ, phòng tắm... thì ngày nào cũng sử dụng. Còn một số phòng, thi thoảng mới vào, ngắm nghía, lau dọn, ngơ ngẩn suy tư một thoáng, hoặc một vài giờ rồi tạm biệt. Có những phòng, phải dùng khóa cực tốt, khóa thật chặt, không muốn hoặc không dám trở lại dù chỉ một lần. Nhưng thói đời thường hay ngược lại, bởi căn phòng này là chúa gây rắc rối cho sự mâu thuẫn giữa cái đầu lý trí cứng rắn và trái tim mềm... vốn không có mắt. Cho nên đôi khi người ta lại tự ...bẻ khóa mà bước vào...! - Có ai đã có lần nào tự “bẻ khóa” giống tôi - chị ấy tự hỏi! Rồi chị ấy lại thắc thỏm về mùa Ngâu thật lạ năm nay. Sao nước mắt vợ chồng nhà Ngâu cứ khóc mãi không thôi! Hết tháng Bảy rồi, quá nửa tuần trăng tháng Tám... vẫn khóc mùi, khóc mẫn. Đêm, đường phố Hà Nội như rộng, dài thêm. Ánh đèn vàng chập chờn, bị nước mưa làm nhạt nhòa đi như mắt của người đàn bà đang khóc. Ai đó mặc áo mưa vội vã đi đâu, ai đó lầm lũi dầm mưa trong cuộc mưu sinh, ai đó đã mở bản nhạc cổ điển, một giọng nữ cất lên buồn buồn, dịu dàng, tha thiết, thể hiện bài hát “Giọt Mưa Thu” của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, lẫn trong hàng hàng giọt nước mắt của trời: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi Nghe gió thoảng mơ hồ trong đêm thu Ai khóc ai than hờ...” Chị lặng người đi vì xúc động. Chợt nhìn bức ảnh trắng đen, chụp hình cô nữ sinh tươi cười như hoa treo trên tường, chị ấy lại trở về với “căn phòng” lãng mạn trong góc nhớ xa xôi. Này đây là một đêm mưa thu khúc khích, có nàng thiếu nữ ngồi dưới đèn dầu, ngắm nghía vuốt ve bức thư tỏ tình đầu đời con gái, của một bạn trai lớp trên hẹn hò, và gọi là “Em”! Trong giấc ngủ đêm mưa ấy, trên đôi môi xinh và thơm như giọt mưa thu, in một nét cười. Nàng mang nụ cười vào giấc mơ... và sau đó là nhiều giấc mơ...! Ở một góc thời gian nức nở, khi mọi tấp nập cho công việc chuẩn bị cưới xin trong nhà đã hoàn tất, mọi người vui vẻ chia tay và hẹn đến ngày mai, chỉ còn mình nàng. Đêm ấy trời cũng mưa... Nhưng nàng ngây thơ và trong sáng quá, nên chẳng biết là ông trời đã khóc thương cho đứa con gái vụng dại của người, khi đặt chân tới miền trầm luân... nước mắt...để những cái nắm tay thật chặt, cứ trượt dài vào dĩ vãng... Lại cũng một đêm, trong chập chờn giấc ngủ, nghe tiếng gió mưa sàn sạt, một hạt nước tạt qua khe cửa kính vô ý khép hờ, đưa nàng, khi thì trở về căn nhà lợp rạ của mẹ trong đêm bão to tháng Chín năm nào, lúc thì lại đến với căn nhà thuộc khu tập thể giáo viên đêm ấy. Mưa gió lùa qua lỗ thủng của cánh cửa làm bằng gỗ xấu mục nát, nàng đã “vá” nó bằng một... mảnh bìa. Tấm áo mưa che hững hờ trên màn không ngăn được những giọt nước liên tiếp tuôn xuống từ mái nhà lợp rạ nhiều năm chưa lợp lại. Tiếng khóc thét của con trẻ, tiếng nước mưa nhỏ lanh canh vào chậu, vào xoong hứng dột, xen lẫn tiếng vặc nhau của vợ chồng nhà bên... người đàn bà ấy lại mỉm cười mai mỉa, cay đắng nghĩ về những vần thơ một thời, ngộ nhận của mình... về mưa...! Nỗi kinh hoàng, ám ảnh nhất với chị ấy là một đêm chủ nhật mưa tầm tã, cả cơ quan về nghỉ hết, khu nhà tập thể chị ở bị mất điện luôn, một mình bà mẹ với hai đứa con viêm phế quản, sốt cao thoi thóp thở. Ruột như có lửa, chị cuống quýt, muốn hà hơi cho con thở. Nghĩ dại, nếu con có làm sao...May mà cơn mưa khốn khổ cũng qua đi, bệnh của con cũng qua đi, nỗi buồn cũng dần tan biến đi, nhưng nỗi cô đơn thì còn bám víu không biết đến bao giờ. Trong một lần gặp lại người xưa, hai người ngồi với nhau vào một chiều muộn, cơn mưa chợt đến như có hẹn từ trước. Anh nắm bàn tay đã gầy đi mấy phần của chị và bùi ngùi nhắc lại chuyện năm nào. Cũng quán cóc này đây, ngày xưa nó chỉ là một mái che lợp lá của bà cụ đẹp lão vui tính, hai hàm răng đen nhánh hạt na. Chỉ có quán của bà mới có thứ kẹo lạc tự làm, rất ngon và nước vối hoa hòe mà chị thích. Chỉ có bà lão mới mát tính mà đọc cho đôi trẻ những bài ca dao cho cô cậu say sưa ghi chép vào vở, để làm “tư liệu” cho những bức thư tình... Chiều đó, hai kẻ si tình ấy, ngắm mưa rơi và đọc cho nhau nghe những vần thơ về mưa, mấy lần định đứng dậy toan về, thì câu thơ đang say cứ níu họ lại. Đôi trẻ chỉ... “tỉnh dậy” như người ngủ mê, khi dòng nước đang sôi sục, cuồn cuộn biến con đường thành sông. Đất trời dính vào nhau trắng mờ thành một... vũ trụ nước khổng lồ. Họ dìu nhau ướt sũng, xiêu vẹo. Nhờ ánh chớp trong đêm tối, lần mò, dò dẫm qua đám cây đổ tìm đường về... Từ bấy đến nay, đã bao thay đổi, chỉ có mưa là vẫn nguyên vẹn thủy chung! Đêm nay, chị muốn ngồi một mình với mưa rơi.

3

Người ta, sau các cuộc dâu bể, từng trải rồi, có một lúc nào đó lại thích sống một mình, sống cho mình. Ngẫm lại, chị thấy mình thật nhiều duyên nợ với mưa. Khi vui, chị thường mượn nắng tươi hồng làm bừng sáng bao cảm xúc cho công việc, cho những cuộc chơi và cả... cho thơ. Nhưng khi chị buồn, chị cô đơn, những cơn mưa thường tự tìm đến với chị, vỗ về, an ủi chị, chìm trong chị, dù là cơn mưa thực hay cơn mưa bão trong lòng. Ai bảo rằng: chị và mưa thu, hai kẻ cô đơn, không là bạn tri kỷ, tri âm!

 

                                Hà Nội đêm mưa buồn 25- 9- 2021




Rằm tháng Tám nói chuyện ốc                                                   

   Tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung

 

  Sáng nay em tôi nhắn tin:“Em bận quá, không về quê ăn rằm và không đến chị được. Em mua mớ ôc biêu ta, xịn luôn, biếu để chị làm rằm, em cho người mang đến nha”.

Thì ra, dù bận mấy, em tôi vẫn nhớ phong tục quê tôi và nhớ chị gái mình rất mê xài món ăn từ loài nhuyễn thể xinh xắn, giòn ngọt của đồng quê, ao làng này.

canh trung thu


     Làng tôi như một hòn đảo, xung quanh bao bọc bởi Sông Sứ, Sông Lụ, sông Trà Lý, sông Vũ Lăng. Muốn sang làng khác, nhất định phải qua cầu. Cầu Ông Niệm, Cầu Chụp, cầu Ông Bà Núi, cầu Ông Quấn, cầu Đồng Nha, cầu Ông Am, Cầu Đá, cầu Ông Thụy...Mỗi tên cầu gắn liền với tên các ông bà chủ đã sáng lập ra nó hoặc có một mối liên quan thật gắn bó.

Còn ao, đầm thì nhiều vô kể. Không mấy gia đình là không có ao. Trừ ao làng, hồ làng ra, tùy theo điền sản giàu nghèo mà có khuôn ao to hay nhỏ. Các ao bốn mùa văn vắt nước.

Mùa thu, nước trong suốt, người ta có thể nhìn thấy những chú cá quả đang chăn đàn “thồng rồng” bên đám rong đuôi chó dập dờn. Bọn trẻ con có thể nhìn thấy vài cô cá dải phướn, phất phơ làn vây và dải đuôi ngũ sắc bên em cá hạt bòng đỏ bụng, làm khơi dậy bao khát khao trong những con mắt thơ ngây... Một vài trái sung chín rơi xuống, tôi không thể quên được, sau tiếng “tõm” là quả sung nổi bềnh lên, và các anh cá ăn tạp xô nhau tranh đớp. Có lần muốn... thử các cu cậu cá tham ăn, tôi ném quả cà pháo chín đỏ. tuy nhiên, cả đám đông nhà cá tản ra, lặn tiệt. Thế mới biết, loài cá khôn róc đời. Là trêu đàn cá thế thôi, mùa này không phải mùa câu cá mà mùa đi săn ốc biêu. Trẻ con làng tôi, đứa nào cũng được bố mẹ làm cho một cái vợt. Vợt gồm một mảnh lưới cũ, đính chắc chắn vào cái khung tre to bằng miệng nồi bảy, gắn vào một sào dài bằng tre hóp đá.

Bờ ao nhà nào cũng san sát những cây là cây, chúng tôi chỉ việc trèo lên các cây ngả ra và tìm “đối tượng”.

Ốc biêu ao đầm thường có màu xanh biêng biếc đen của nước và rong bèo. Mùa hè, nóng chúng ăn màu ao, rong quả, rồi lặn sâu xuống đáy ao, hay rúc vào rễ bèo, nên rất nhanh lớn và tích được nhiều năng lượng, đến mùa thu, đông chúng có thể nhịn cả tháng để rong chơi và tránh rét.

Cữ thu, trời trong văn vắt, nắng trải vàng như lụa, vài sợi gió heo may điểm chuốt làm cho mặt nước gợn sóng li ti như câu thơ cụ Nguyễn Khuyến:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
 Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
(Thu điếu).

Họ hàng nhà ốc biêu từ đáy bùn, rễ bèo rủ nhau ra, nổi lên hưởng khí trời và để... kết nối yêu thương. Chúng nổi lên lập lờ mặt nước, cái vảy mở ra, khoe miệng ướt át đen bóng xòe rộng như cái phao lờ lững, tự trôi. Có những khoảng nước, có cả mảng dăm bảy con tụ tập. Lại có cả những cặp...uyên ương xinh xẻo đang thực hiện nghĩa vụ của đất trời mà duy trì nòi giống cho đời sau. Những cặp này, thường được bọn trẻ chúng tôi ... tạm tha.

Đi một buổi, quanh các ao làng, là mỗi đứa đã có trong giỏ, ngân ngẩn, lạo sạo những ốc. Anh họ tôi rất tài bẫy ốc. Anh ra vườn bẻ một ôm lá sắn non, rồi chia thành từng búi, thả xuống dưới đám rễ bèo. Các chú chàng ốc nhà ta, thấy mùi chua thơm, ngon béo, liền thi nhau rúc sâu vào thưởng thức. Chỉ cần lấy rổ sề, xúc một mẻ là dăm bảy con, có khi vài chục con. Cả ốc lẫn cua. Tôi còn nhớ, một câu ca dao cổ mô tả về việc làm này:

Ta về hái lá sắn non
Rau sấm rau sét bẫy con ốc nhồi”.

Ốc mới béo nục bắt về, bà tôi chọn những con vàng ươm, to, đầy miệng và nổi trứng màu trắng ngà, để riêng ra. Chỗ còn lại, buổi tối làm ngay nồi ốc nấu chuối đậu với lá lốt tía tô, mẻ...ăn kèm hoa chuối, cây chuối non thái ghém, đến là vào cơm! Các cụ nói có cá phải vạ cho cơm! Món chuối đậu với ốc cũng làm vạ cho cơm ghê lắm!

Số ốc đã tuyển, bà đem dồn vào một chiếc giỏ đại, để dành trên gác bếp. Bà giải thích:

- Ốc biêu sẽ ở trên đó, nhả hết nhớt và ăn bồ hóng, sống được cả tháng.

Do tò mò và thực tình cũng thấy lo lo cho các anh bạn ốc… nên khi mọi người đi vắng, tôi thi thoảng vẫn bắc ghế lên, định bụng: nếu chúng khát thì cho... uống nước. Nhưng lạ thay, các nàng ốc, chàng ốc của tôi vẫn cứng cỏi, khô se trong im lặng, chịu đựng một cách vô cùng đáng nể. Thật là một loài vật kỳ lạ!

Cứ đến tầm này, khoảng 11, 12 tháng Tám âm lịch, bà tôi mới rinh giỏ ốc xuống, rửa sạch bồ hóng và ngâm nước từ từ ít một cho ốc quen dần. Bà đổ ốc ra cái mẹt sơn, lấy chừng một bát nước cơm đặc gạo tám cho lũ ốc bị bỏ đói ăn. Chao ôi! Chúng ăn rào rào như tằm ăn rỗi! Bà tôi còn bảo:

- Nhà giàu ngày trước, người ta đập trứng gà cho ốc đói ăn, thịt ngon và sang lắm.

Ở làng tôi, giàu nghèo không biết, nhưng cứ đến đêm rằm tháng Tám, lựa lúc trăng lên, trên ban thờ là mâm cỗ cúng giời đất, ông bà: những bánh trái, chuối, cốm hồng, na bưởi...Ngoài hiên nhà nào cũng có nồi ốc biêu luộc với lá sả, lá chanh thơm phức, chấm nước mắm gừng, tỏi, chanh ớt...Bao giờ mẹ tôi cũng lựa những con ốc to, múc một bát lớn dành cho bố và chú Dần nhắm rượu trông trăng.

Trăng rằm tròn vành vạnh như cái mâm con, rải những chùm sáng xanh rười rượi trên cây na, mít; trên mâm ngũ quả đủ sắc màu được bày ra giữa sân; lấp loáng làn khói của nồi ốc luộc đẫm hương sả, hương chanh. Trăng tỏ những ánh mắt long lanh của bầy trẻ nhỏ ham chơi, háu ăn và cả ánh mắt âu yếm, mãn nguyện của những người mẹ, người bà. Có lần tôi hỏi ông tôi:

- Sao rằm tháng Tám lại được ăn ốc biêu luộc ông ơi!

- À, từ lâu lắm rồi, làng mình có tục lệ này. Các cụ ta nói ăn để cho sáng mắt.

Bọn trẻ chúng tôi, ai cũng muốn mắt mình sáng trong và đẹp long lanh. Nhưng cái chính là chúng tôi được nhể từ con ốc đen đúa nhường kia, ra mảnh ruột trắng trẻo, sạch sẽ, nóng hổi, chấm vào bát nước chấm chua ngon mặn ngọt mà cảm nhận được độ giòn ngậy, thơm tho mà con ốc làng tôi chắt lọc từ cây cỏ xanh, làn nước trong, hạt bồ hóng khô đắng, bột hồ gạo tám sang trọng, bàn tay, tấm lòng thảo thơm của mẹ, của bà và khí giời của miền đồng bằng ven biến... mà thành. Món ốc không phải là lạ lẫm với chúng tôi, lũ trẻ nhà quê. Nhưng ăn ốc rằm tháng Tám với chúng tôi thật là một đại tiệc!

Không biết bây giờ, ở làng tôi còn nhiều nhà ăn món ốc biêu luộc trông trăng vào rằm Trung Thu nữa không. Khi các ao làng đã san lấp sạch, thành nhà tầng chói loà ánh điện, làm cho mặt trăng trở nên nhợt nhạt, lạnh lùng...

Khi các con sông đang bị ô nhiễm, mặt nước đen ngòm, nổi bọt như mắt thú hoang. Khi con cua con ốc không chịu nổi mùi các loại hóa chất hủy diệt đã gần như sắp tuyệt chủng.

Khi ngàn triệu những con ốc biêu vàng xa lạ tấn công mùa màng, thi nhau đẻ trứng đỏ quạch ở bất cứ nơi nào có thể.

Khi ta thèm nhỏ dãi bữa ốc biêu luộc, ta phải tìm đến các chợ lớn mua tạm thứ ốc nuôi Miền Nam ruột nhao nhão, nhơn nhớt mà ... “hổng giống ai”!

Và cả khi, các loại bánh kẹo, hoa quả đặc sản ưu việt Tàu Tây, kim cổ thật nhiều chất bảo quản đã... lên ngôi!

Viết đến đây, tôi lại bùi ngùi nhớ lại một câu ca dao cổ:

“Buộc lưng con ốc mà treo
Ai làm con ốc quăn queo thể này”!

 

Hà Nội 12-8 năm Canh Tý, 8/2020


                                                                   
         TẢN MẠN THU

                                                                                                  Tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung

        Tiết thu là một thời khắc rất lạ của đất trời. Dường như cái phơi phới nõn nà của mùa xuân và cái rực rỡ căng tràn của mùa hạ đã khép lại để cho mùa thu nhẹ nhàng, duyên dáng khoe mình.

Ở mùa thu, cái gì cũng nhẹ.

Nắng chuốt từng sợi vàng óng, buông như giăng tơ, đem lại một thứ ánh sáng trong suốt mà mơ màng, làm cho người ta có cảm giác mặt đất như được nâng lên đến lưng chừng giời. Phải chăng thi sĩ Xuân Diệu đã từng mơ màng với nắng thu mà viết:

“Không gian như có dây tơ
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu

Gió heo may - thứ gió đặc biệt trong năm, chỉ xuất hiện vào mùa này, mát khô và se lạnh, cũng theo đó mà nhẹ  như không thể nhẹ hơn. Nhẹ lắm! Chỉ đủ để làm mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn,  chỉ đủ để vài chiếc lá lay động và thì thầm tạm biệt cành rồi bay bay, xoay xoay và đặt mình thật khẽ khàng xuống  nơi mặt đất. Gió cũng đủ êm để cho người ta nghe rõ tiếng chim lách chách chuyền cành; đủ cho ai đó thưởng thức mùi thơm hăng hắc, say say như mật của những đóa cúc vàng rực mà cô gái làng hoa vừa thoáng đi qua; đủ làm bay bay mái tóc dài của thiếu nữ thẩn thơ chờ ai bên Hồ Tây và cũng đủ để ai đó nói vào tai ai những lời thì thầm  ngọt ngào có cánh... cái gió Thu đặc biệt ấy đã từng thổi buồn trong Cung oán ngâm thành “gió vàng hiu hắt”, hay bay nhẹ trong thơ Nguyễn Khuyến trên cành trúc “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”  (Thu vịnh) và êm nhẹ như hơi thở trong thơ Y Phương để gợi nhớ người “Bạn ơi nhìn kìa/ Hiu hiu gió rồi/ Tôi lại nhớ một người” (Mùa Thu nhớ bạn)

Cũng vẫn theo đó, mây mùa thu nhẹ xốp bồng bềnh trắng nõn tựa hồ như một cánh đồng làm tuyền bằng bông. Mây thảnh thơi dạo chơi, không nhanh, không chậm như vừa trải qua một chuyến du ngoạn từ vũ trụ xa thẳm trở về, vừa vặn để che cho ánh mặt trời không quá gay gắt; Và cũng vừa vặn cho các em nhỏ ngắm mây, hình dung ra các nàng tiên đang bay lượn, hình dung ra  đủ loại những con thú bằng bông ngộ nghĩnh,  được bàn tay khổng lồ  khéo léo tung ra từ xứ sở nhà trời.

Rồi mưa, mưa mùa thu không chợt đến, chợt đi như mùa hạ, nó kéo dài sụt sùi giọt dài, giọt ngắn, vì thế mà người xưa đã khéo lồng vào đó một câu chuyện tình đầy xúc động của Ả Chức, chàng Ngưu. Bao nhiêu nỗi đau của kiếp nhân sinh đều vì thế mà biến thành mưa nước mắt! Mưa thu buồn  và mối tình éo le đã khiến nữ sĩ Tương Phố làm nên “Giọt lệ thu” thánh thót gây xúc động bao trái tim những người đa cảm.

Và trăng! Chao ôi! Chưa thời khắc nào trong năm, trăng đẹp như mùa thu. Trăng ngọc ngà gieo thứ ánh sáng xanh  ma mị,  vừa dịu dàng, vừa huyền ảo - mà vũ trụ đặc ban cho trái đất ấy, đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực, của thơ ca, nhạc họa và bao loại hình nghệ thuật của chốn nhân gian. Có lẽ, không một người nào trong cuộc đời lại không có những kỷ niệm đẹp về trăng thu với tuổi thơ, với người yêu dấu, với bạn bè tri kỷ, với quê hương, với  niềm vui hoặc nỗi buồn xa nhớ…!

Không hiểu vì sao, cứ nghĩ về mùa thu là tôi lại nghĩ ngay đến hình ảnh một người đàn bà đẹp đang độ hồi xuân. Đó là thời kỳ đỉnh cao của nhan sắc, dịu dàng, mặn mà,  đm thắm, tròn đầy...

Và người đẹp xưa nay thường hay yểu mệnh, cũng như mùa thu đẹp quá làm ta có cảm giác  mong manh.            

Có lẽ vì  những lí do như thế mà  người ta yêu, người ta  say thu chăng?

 

                                          Mùa Thu Hà Nội năm 2017

 

 

       CHIỀU HỒ TÂY MÙA DỊCH

 

             Tản văn của Phạm Ngọc Tâm Dung

 

Chiều buồn, lên sân thượng, ngắm cảnh Hồ Tây. Con đường vắng vẻ lạ thường làm cho tôi nhớ Hồ Tây đến nao lòng, dù nơi tôi ở với mặt nước Hồ chỉ tính bằng khoảng cách của những ...sải tay.

Nhớ những buổi chiều đạp xe một vòng quanh hồ, ta có cảm giác như người được bước ra từ sau cánh cửa thời gian quá khứ, lạc vào xứ sở tương lai lạ lùng. Hồ Tây hiện ra với những bức tranh đủ màu sắc khác nhau. Không chỉ chủ sở hữu một làn nước xanh quanh năm gợn sóng, Hồ Tây còn đẹp bởi trời xanh như một thứ trang sức, làm cho nước hồ như xanh hơn. Rồi cây ven hồ soi bóng xuống tấm gương nước long lanh. Rồi người thể dục, người đi dạo nhấp nhô, chập chờn như cánh bướm…

Nhớ lần tôi đi du lịch Trung Quốc, khi đến Hàng Châu, ngắm cảnh Tây Hồ. Trong khoảng không gian đẹp mê hồn của trời mây non nước, biết chúng tôi là người Việt Nam, anh hướng dẫn viên du lịch nước bạn liền kể một câu chuyện thế này:

Ngày xưa, xưa lắm, trên thiên cung có một tấm gương thần, do sơ suất, một vị tiên đã đánh rơi nó xuống hạ giới. Tấm gương vỡ làm đôi và văng ra làm hai mảnh. Một mảnh rơi xuống miền đất hoa lệ Hàng Châu Trung Quốc tạo thành Tây Hồ. Một mảnh rơi xuống mảnh đất linh thiêng thơ mộng Việt Nam tạo thành Hồ Tây.

Câu chuyện thực hư ra sao ta chưa biết, nhưng nó đã khẳng định sự nổi tiếng của Hồ Tây Việt Nam trên đất nước có vô vàn hồ đẹp Trung Hoa.

Dù nằm trong lòng Thủ đô, cách khu phố đông nhộn nhịp chỉ mấy bước chân, nhưng không gian Hồ Tây vẫn mang dấu ấn của không gian làng xã. Tôi xuất phát đạp xe từ làng Bái Ân, vòng tay phải theo lối Trích Sài, Làng Hồ, Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân, Xuân La. Trước cửa chùa Trích Sài là một cây bồ đề xum xuê vài ba trăm năm tuổi, một chòm si dày đặc như một “trái núi” màu xanh với chùm rễ bện vào nhau lâu năm như những con trăn khổng lồ chui thật sâu xuống lòng hồ. Nó hút chất màu mỡ và cả những gì bí ẩn của lòng đất Hồ Tây để cho vầng lá xanh tươi khác thường kia bốn mùa không ngơi rì rầm những lời của đất... Cách bờ tầm vài trăm mét là mấy ngôi mộ cổ nhấp nhô cùng sóng nước, lặn vào ký ức thời gian. Ngôi trường Chu Văn An cổ kính, sang trọng mang kiến trúc kiểu Châu Âu, khuất sau hàng cổ thụ trầm tĩnh, như một cặp đôi tri âm tri kỷ với Hồ Tây.

Đường độc đạo Thanh Niên xuyên lãng mạn giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch như hệt mũi tên của thần tình yêu vừa bật khỏi cung, để sẵn sàng chọc thủng trái tim kẻ si tình. Có phải vì như thế mà bao năm nay, con đường này trở thành nơi hò hẹn, thành lối đi về cho bao đôi lứa! Nó đã giấu vào trong mình biết bao sự bí ẩn, đã chứng kiến, che chở cho sự khởi đầu của biết bao mối tình say đắm của những đôi nam thanh nữ tú đất Hà thành thanh lịch, hào hoa!

Xe tôi qua làng quất Nghi Tàm, làng hoa Quảng Bá, Nhật Tân, làng đánh cá Xuân La, làng dâu tằm dệt vải Bái Ân, làng giấy dó Yên Thái xinh đẹp và trù phú.

Trên chiếc “Cầu Kiều” của Thung Lũng Hoa, hay bên con đầm kiêu sa của những loài hoa đặc biệt “lá xanh bông trắng”, ta bắt gặp những “con mắt lá răm” của những thiếu nữ Hà thành. Em xúng xính trong làn xống áo “mớ bảy mớ ba”, hay giản dị trong chiếc yếm thắm xưa để trần đôi vai thon trắng muốt. Ngắm em cười, em tạo dáng trước ống kính của người đàn ông đang chết mê chết mệt vì em, ta ao ước mình trẻ lại, ta ao ước mình trở về với miền quê êm ả, trở về với ao sen trước cửa đình làng, trở về với bao kỷ niệm một thời.

Có một chị trung tuổi khá duyên dáng đang bó hoa sen. Em gái có thể cầm, đứng trên chiếc cầu nhỏ, hay đứng ven đầm tạo dáng. Cũng những đóa sen này đây, nó sẽ trang điểm cho mỗi quầy hàng hoa, mỗi gánh hàng hoa và mỗi căn phòng thêm xinh tươi trong những tòa chung cư hiện đại cao vời...

Ai đã đi quanh Hồ Tây một vòng, qua hàng chục đền chùa (chưa ở đâu chùa liên tiếp chùa đến thế) sẽ không thể không dừng chân trước một bán đảo xinh đẹp, cổ kính và linh thiêng, được xây dựng cách nay trên bốn thể kỳ, “một chốn đi về” cho bao thế hệ - Phủ Tây Hồ. Tương truyền, vị thần nữ được thờ tự ở đây rất ly kỳ. Đó là câu chuyện về nàng công chúa Quỳnh Hoa con thứ hai của nhà trời không may đánh vỡ viên ngọc quý bị đầy xuống trần gian và Bà Chúa Liễu Hạnh nhân đức đã trở thành thánh mẫu, và là một trong các vị “tứ bất tử” của Nước Nam ta. Sực nhớ đến mấy câu thơ về Phủ Tây Hồ của nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa:

“Mấy năm giặc đánh phá
Ba Đình vẫn xanh cây
Trăng vàng chùa Một Cột
Phủ Tây Hồ hoa bay”

Bây giờ Phủ Tây Hồ thanh bình. Ngoài những món ăn đặc sắc như bánh tôm, bún ốc, nem nướng... trở thành nổi tiếng về ẩm thực Hà thành, Phủ Tây Hồ còn là tâm điểm lễ bái cầu duyên, cầu cho quốc thái dân an, và tham quan, du lịch của Thủ đô. Ngày chưa về Hà Nội, chỉ mới biết đến con hồ quyến rũ này qua việc đọc các câu chuyện cổ tích, qua các tác phẩm bất hủ của các bậc tiền bối văn chương, tôi khao khát biết bao được một lần đặt chân đến cái góc lãng mạn trong bức tranh cổ kính của Hà Nội.

Nhớ cảm xúc lần đầu tiên được cha dẫn đến ngắm Đường Thanh Niên và được ăn bánh tôm Phủ Tây Hồ. Nhớ khi dọn đến ngôi nhà mới, buổi chiều đưa con ra dạo ven hồ, cảm nhận điều hạnh phúc giản dị hằng mơ ước: mình được làm cư dân Hồ Tây...

Người ta ví Hồ Tây là lá phổi xanh của Thủ đô Hà Nội, có lẽ là nói về cây xanh, về mặt nước, nhưng chắc chủ yếu là nói về gió.

Có người bạn, nói với tôi như thế này khi nhận xét về cái gió “đặc sản” Hồ Tây:

“Gió ở đây rất tươi, bởi nó không hẳn là từ trời vương xuống, mà nó còn từ con sóng của Sông Hồng, của thẳm sâu nơi lòng Hồ...bung lên. Nó có mùi nồng nàn ngai ngái của cây cỏ, mùi thanh thanh phảng phất của cá tôm, cộng với mùi hương hoa trái của xứ vườn Nhật Tân, Quảng Bá; Của những thung lũng hoa muôn loài vương giả; Của những đầm sen mát lành trong khiết như những cảnh thần tiên. Và thẳm sâu trong không gian mênh mông, cơ hồ đâu đó còn vọng lại tiếng vỗ cánh của chim sâm cầm, tiếng rì rào của rừng lau, bãi sậy; Tiếng hát phường vải của những cô gái làng dệt Nghĩa Đô. Nghe trong gió như còn vọng tiếng đập giấy, xeo giấy của các chàng trai làng Võng Thị, tiếng chuông của hàng chục ngôi chùa ngân nga trong chiều rơi và cả nguyên khí đất trời kết lại từ ngàn xưa...”.

Buổi chiều mùa hè hay mùa thu, khi trong lòng có những vui buồn hay trống vắng, tôi đều lấy Hồ Tây làm nơi trú ngụ tinh thần. Và không phải chỉ mình tôi. Người khách dừng ô tô, anh xuống trước một cây lộc vừng ven hồ, với hàng nghìn những chùm dải cuống hoa chiu chít buông làm thành một tấm rèm. Dưới gốc cây, cơ man nào là cánh hoa rụng, còn tươi thắm, rải thành thảm đỏ. Anh lia bấm máy quay và chụp. Thấy tôi có vẻ đồng cảm, anh trần tình:

- Vẻ đẹp rực rỡ nồng nàn của sự tàn phai chị ạ!

Tôi đồng tình với “định nghĩa” của anh và mong rằng, những tấm ảnh chiều nay sẽ được thêm vào kho tư liệu của người thợ săn ảnh tâm huyết này những tác phẩm đẹp mê hồn.

Một cặp đôi dừng lại, họ sung sướng hít hà cơn gió mát tới tận tim phổi sau một ngày căng mình trong văn phòng chật hẹp của máy điều hòa nhiệt độ làm cho khô lạnh làn da. Và kia, đằng sau lưng họ, trên vỉa hè được bày la liệt những hàng bàn ghế nhựa, một mùi thơm khó cưỡng của sả, lá chanh, gừng, tỏi ớt...đang tỏa ra từ hàng ốc luộc.

Từng cặp đôi, cặp ba, cặp tư mỉm cười, sà vào các hàng ghế tạm bợ mà khêu khêu, chấm chấm. Bát nước chua cay, mặn ngọt khoái khẩu đã làm bao thực khách xuýt xoa hả hê. Thi thoảng nhâm nhi đôi lát sung xanh ngâm dấm với ốc, vừa ăn vừa ngắm mặt nước mênh mông. Dường như vừa thưởng thức món ăn, vừa ngắm cảnh làm cho việc ẩm thực thêm thi vị. Có thể ngắm những con thuyền lao như mũi tên của những vận động viên thể thao. Ngắm chòm mây bạc lững lờ trôi. Ngắm bóng lặng lẽ của bác ngồi câu cá. Ngắm dáng tất bật của những người đi làm tranh thủ về nhà đầm ấm cùng bữa cơm chiều...

Ốc Hồ Tây vốn thơm ngon nổi tiếng, lại được ăn tại ven Hồ cùng người thân mến thì thú vị nào bằng.

Hồ Tây nổi tiếng với những món ăn dân dã nhưng cũng không hiếm những nơi chốn sang trọng dành cho người Thủ đô sành ăn, thanh lịch.

Phía Tây, ngoài những đầm Sen lãng mạn như chốn bồng lai là những nhà hàng cao lương mỹ vị phục vụ cho những nhu cầu tiệc tùng hay gặp gỡ giao lưu tương tác... Còn có những khu biệt thự cao cấp. Đó là thế giới của sự sang giàu ... Ngay trên con đường đi vào khu biệt thự, vẫn có những bà cụ làng Quảng Bá ngồi trước cái rổ tre với dăm mớ rau vườn nhà. Một quán lều bạt sơ sài dăm chiếc ghế nhựa với một bộ ấm chén, cái lọ kẹo lạc cũ kỹ, vài trái cây giản dị và bác chủ hàng áo cánh nâu nhũn nhặn, duyên duyên đang vừa bán hàng vừa tách nhị sen.

Người khách sành trà đến từ phố cổ, trước tiên, ông nâng tách trà lên và thưởng trà bằng mũi, rồi chậm chạp khiêm nhường nhấp môi như thế ông đang uống kỷ niệm của mình...

Tôi ấn tượng nhất quán cà phê góc hồ. Quán nhìn ra mặt hồ cả hai phía. Khách hàng phần lớn là những người muốn tìm không gian thư giãn cho mình cùng bạn bè. Và không hiếm những cặp đôi…Họ thường ngồi bên nhau hàng giờ, tách cà phê đã nguội, cứ khuấy lên mà chẳng mấy nhâm nhi. Mắt nhìn những con sóng lô xô. Vu vơ ngắm mấy bông hoa lan trắng muốt thấp thoáng trong lùm xanh tỏa hương ngát trong veo, ngắm cây điệp khoe chùm hoa vàng dịu dàng nữ tính... mà như muốn thu cả cảnh sắc Hồ Tây cất giấu vào kho báu cho riêng mình...

Chiều càng muộn, những làn gió lộng, cùng nhịp sống có phần chậm lại, khi những màn sương tím nhạt mỏng như trong những giấc mơ miên man phủ mặt hồ. Những con sóng ẩn mình trong chiều buông, gió cũng ẩn mình trong tiếng reo của lá, tiếng rì rào của sóng, tiếng giày rảo bước của người đi bộ… Ta vẫn cảm nhận được một phần hơi thở của thời gian qua những nhịp sóng lăn tăn, qua tiếng xe vun vút của người đì làm về trễ và cả tiếng thì thầm của những cặp đôi...

Tôi chợt nhận ra bóng một người lặng lẽ rời ghế đá, nhìn Hồ Tây mênh mang như gửi niềm riêng đến tận cõi nào. Có vẻ như người đó đang tìm lại những kỉ niệm xưa. Giá mà tôi được đọc tặng người ấy mấy câu thơ rất hay của Nguyễn Hưng để chia sẻ tâm trạng thì hay biết mấy.

“Đâu những chiều bên Hồ Tây lộng gió
Của một thời cháy đỏ giấc mơ yêu
Và còn đâu bàn tay nắm trong chiều
Từng dắt nhau phiêu diêu vào cõi mộng” ...

Hà Nội bây giờ đang kỳ giãn cách. Các ngả đường chỉ lác đác vài ba người đi lại vội vàng, khẩu trang kín mít. Người ta chăng dây cấm tuyệt đối những tụ điểm vui chơi. Các nhà hàng im lìm cửa đóng cài then...

Những hàng cây ven Hồ Tây dường như ngơ ngác. Có lẽ chúng chả hiểu vì sao những “người bạn” hàng ngày thân thiết lại tự nhiên vắng bóng. Chỉ có gió Hồ Tây, những con gió của trời, của đất, của thánh thần, của nước là vẫn cần mẫn thổi. Nước Hồ Tây hóa thân vào gió, mang hơi mát lành đã dành dụm hàng nghìn năm, gửi đến vuốt ve tiếp sức cho từng người, từng nhà trong mùa chống dịch...

Hồ Tây đang cùng tôi, cùng khu phố tôi, cùng Hà Nội và cả nước đẩy lùi con Covid.

 
                                               Hà Nội 21- 7- 2021


 

  SƯƠNG

    2                                             

   Thật tuyệt!

   Không phải mưa hạt mà là mưa... hơi. Như là trò chơi của con gái thần núi. Nữ thần trẻ tuổi đã tán những hạt nước thật nhỏ, mịn màng, bông xốp và dịu dàng, vo lại thành những búi to, búi nhỏ rồi lăn nó trên đỉnh núi bồng bềnh, êm không một tiếng động. Đôi khi lại tựa hồ như một bàn tay khéo léo nhà trời choàng nhẹ nhàng tấm khăn voan mỏng tơ và trong suốt, duyên dáng lên mái tóc xanh của tiên nữ. Tất thảy, đem lại cho ta một thứ ảo giác vừa mong manh vừa dễ chịu, dù biết nắng lên là hết.

Sương!

Trong cái màng nước trăng trắng, nhờ nhờ, mờ mịt của một sớm mai, nhìn nàng thiếu nữ dầm sương. Cặp mắt em vốn đẹp, bây giờ lại có thêm những hạt nước hết sức nhỏ, long lanh như những hạt ngọc, đậu chơi vơi nơi đầu những chiếc lông mi xinh xinh bé tí. Sự huyền ảo do thế mà tăng lên, để mỗi khi cặp mắt “chớp” thì một vài hạt nước lại chập lại và bay ra, nhường chỗ cho những hạt khác thay vào đúng chỗ ban nãy của nó, như một trò chơi thú vị mà thật dễ thương...

Ngắm em và sương, tôi chợt ước mình biết làm thơ... và lại ước, mình biến thành một...hoạ sĩ, để đưa vẻ đẹp này vào những bức hoạ có hồn người, hồn sương, tặng người con gái đáng yêu và...sương!

Sương!

Khi ta đi trong sương, sương không làm ta ướt áo như mưa dầm, mà chỉ làm cho da mặt ta lành lạnh, man mát. Ta nghe đâu đây tiếng nói mơ hồ của đất trời trong ta. Ta thưởng thức cho đã con mắt, tà áo của các người đẹp phơi phới thanh xuân, được sương làm cho nó bó sát hơn, các đường cong của nàng vốn đã cong, giờ đây lại in rõ vẻ đẹp tiềm tàng của sức sống.

Trước mắt ta, kìa, một cặp đôi! Hình như họ đang lạnh, cô gái ép mình vào người đàn ông đang dìu nàng. Đôi trẻ đi vào một “quả sương”, như thể các nhân vật trong truyện cổ tích. “Quả sương” đã bọc trọn họ vào trong lòng của nó, và mang dấu đi đâu...biệt tăm! Rồi sau đó, lại cho họ đột ngột xuất hiện, ở bên kia mé đồi, như một đôi tiên đồng ngọc nữ bước ra từ núi Thiên Thai... Rồi, một chiều buông, ráng chiều phía Tây nhuộm hồng hồng, làn hơi nước như ở cõi tiên cứ bay mênh mang trong vô tận, ta lại gặp đâu đó một bóng người, ẩn hiện trong sương, chơi vơi buồn. Có thể người ấy lấy sương làm bạn?

Chứ sao! Biết đâu lời thì thầm tiễn biệt năm xưa với người tri kỷ, sương vẫn đang lưu giữ trong mình... thì cớ gì, có sương, mà phải cô đơn! Và biết đâu, ở nơi xa xôi nào đó, có ai đang ngắm sương buông, nhớ bạn hiền mà lần giở những tấm ảnh, sương đã găm vào thời gian...

Từ xa, nhìn sương giống như là khói, nên trong thực tế và trong văn chương, người ta đã ghép hai âm tiết này thành từ “khói sương” hay “sương khói” để chỉ khái niệm về một cái gì đó, lãng đãng, mơ hồ. Chả thế mà Hàn Mặc Tử viết:

“Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà”
(Đây thôn Vĩ Dạ)

Ở xứ ta, nhiều nơi, hầu như có sương quanh năm, nhưng sương giăng nhiều nhất là cuối thu và đông xuân.

Quê tôi vùng ven biển, tôi nhớ nhất là sương mù tháng Hai. Sương làm cho không khí nhiều độ ẩm, hạt gieo xuống đất khô khốc, cựa mình nảy mầm, cây cối trở nên mượt mà xanh tươi. Lúa đồng làng, cây cà, cây cải...vườn nhà mà có sương thì mơn mởn như gái mười lăm.

Nhưng những đêm rét đậm như đêm qua, sương đêm buốt giá, đồng loã với gió bấc, bao lần, chúng táp bỏng rát da mặt, làm tê cứng nơi bàn chân của mẹ ta, khi người đi cất hàng từ gà gáy tiếng nhất.

Ôi mẹ!

Sương muối làm cho vạt rau cháy sém, đàn gà lăn ra toi...và tiếng thở dài ngao ngán của bà...!

Ngày tôi còn là cô học trò, tôi thích nhất những ngày mù sương. Tôi thường dậy sớm và chạy ù ra ngõ. Có chút mặt trời thì mới rõ sương. Tôi ngửa mặt, dang tay thật rộng để tận hưởng cảm giác mát lạnh. Tôi chạy, sương đuổi theo. Há miệng hít một hơi thật dài, sương “chạy” vào tim phổi, thấm vào người rân rân... Khi mặt trời lên, nhìn ngọn cỏ, lá cây, đôi hạt sương trở nên đẹp diệu kỳ, tựa như bàn tay bà trời khéo léo, đính những hạt kim cương trang điểm cho cỏ cây, lá hoa... để rồi, các tác phẩm nghệ thuật, các bài văn mẫu trong giáo khoa và trong những câu văn vụng dại đầu đời của tuổi học trò, đều in hình hạt sương, như một biểu tượng trong trẻo, đẹp xinh của thiên nhiên thương mến!

Mẹ tôi bảo:

- Sương này là nhiều cá khoai đây.

Tôi nghĩ ngay đến loài cá mềm nhân nhẩn toàn thịt - món quà của biển cả vào mùa sương cho người ta nấu canh cần hay bồng khoai nước.

Nhưng đôi khi, sương cũng... điệu đà và tinh nghịch, làm khổ cho người tham gia giao thông. Lại nhớ, một năm, tôi và nhóm bạn thân, đi du lịch Tây Bắc bằng cái ô tô không mấy... hiện đại của cánh nhà báo nghèo. Đoạn qua Nghĩa Lộ, sương dày như... trong mơ. Xe chúng tôi... chui vào trong một núi... kem sữa xốp bằng sương đặc xịt. Đèn pha soi đường đỏ quạch, leo lét như một đốm lửa đèn dầu hoả thời xưa. Chiếc xe nhích từng mét như thể Hà Nội giờ cao điểm tắc đường. Ngồi trong xe mà... nín thở, chẳng ai dám nói câu nào. Căng thẳng chờ đợi cho đến khi “quả sương” đó “lăn” qua, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm.

Nhưng cũng nhiều khi, sương đem lại vẻ đẹp kỳ thú cho những chuyến đi. Sương như một người bạn đồng hành, một “gia chủ” mến khách. Sương nũng nịu quấn quýt lấy bánh xe, làm cho ta có cảm giác xe lăn trên sương, tựa như “Hành Giả” cưỡi mây ra đi từ núi Hoa Quả!
Có lần đi cùng “người ấy” lên đỉnh núi Ba Vì, kẻ không biết làm thơ như tôi mà cũng... dào dạt mà... thơ rằng:
                             “Anh đưa em lên thăm núi Tản Viên
Sườn dốc cheo leo rừng già bát ngát.
Làn gió núi quyện hương rừng trong mát
Sương bồng bềnh nâng ta đi trong mơ...”
“Trời xanh thắm, lũng trập trùng tán lá
Biển sương mờ lấp loáng bóng Đà Giang...”                                                                                       (Tình Ba Vì)
Và dù chưa ai có... tổng kết chính xác, nhưng chúng ta cũng có thể khẳng định:
Trong việc sáng tác các loại hình nghệ thuật, không tác giả nào không ít nhiều thành công khi viết về sương, đặc biệt là thơ:
Thật vậy! Ta nhớ đến Xuân Diệu với trăng sương:
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
                            (Nhị hồ)
Quang Dũng với sương dày:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
(Tây tiến)
Trần Hữu Thung với sương long lanh trong nắng đẹp:
“Mặt trời càng lên tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo đầu ngọn cỏ
Sương lại càng long lanh”
(Thăm lúa)
Nguyễn Duy với sương và vẻ đẹp của thiếu nữ Hà Nội:
“Người con gái chợt qua đường
Áo em mong mỏng màn sương núi đồi
Chợt rơi lại một nụ cười
Và…sương rười rượi một trời phía sau”
                  (Bất chợt)
Và:
“Mắt em trong đến ngây thơ
Trông như nắng giữa mịt mờ sương giăng”
                                                    (Mưa trong nắng, nắng trong mưa)...

Sương đón ta từ khi ta nằm trong nôi, ta nghe tiếng mẹ hát ru khúc “sương sa lạnh lùng”, đến khi ta tập viết những bài văn tả cảnh bằng mực tím thơ ngây, rồi khi hạt sương lặn vào ta lúc vui buồn trong lời hát, vần thơ và cả khi ta về với thiên nhiên, cỏ cây thì lẫn vào cùng... sương khói...!

Ta cảm ơn vô vàn tạo hoá, đấng tối cao đã cho chúng ta hiện diện nơi dương thế, với bao đẹp đẽ buồn vui cùng sương và vạn vật thế gian...

Buổi sáng, tôi đứng trên tầng thượng, nhìn xung quanh thành phố bát ngát biển sương giăng trắng xoá một màu. Chẳng phân biệt được Hồ Tây mênh mông với đường sá đầy người, xe cộ. Nhà cao tầng, với những ô cửa kính lung linh sắc màu, cũng giống như nhà cấp bốn mái tôn cửa cài tránh gió...

Tôi trộm nghĩ: có một cái gì như là sự công bằng, trong mỗi buổi sương giăng, khi sương làm mờ đi, tước đi quyền lực của những lớn bé, thấp cao, sang hèn, rộng hẹp...!

                       5 tháng Giêng năm Canh Tý              

 

 

TẢN MẠN VỀ NGÔ

                                                                                     1

 







     Ngay từ khi còn bé tý, trẻ em xứ ta đã được các cô bảo mẫu, dạy cho thuộc lòng bài thơ giông giống bài đồng dao –Cây ngô

Cây ngô là mẹ
Bắp ngô là con
Thân mẹ gầy còm
Thân con béo chắc
Mỗi cây mấy bắp
Hạt căng mẩy tròn
Dồn sức nuôi con
Mẹ đâu dám tiếc

Bài thơ thật hay về cây ngô, một loại cây thuộc họ ngũ cốc, ở Việt Nam, đã bao đời cùng lúa gạo, sắn, khoai,... là nguồn lương thực chủ lực, nuôi sống con người.

Thân ngô dong dỏng cao, lá hình kiếm, dài, có thể trồng quanh năm, từ Bắc chí Nam. Thời vụ thuận lợi nhất là mùa xuân và thu. Khi cây trỗ cờ, nhiệt độ không quá 35 độ là vừa đủ. Có thể xen canh ngô với các hoa màu khác. Ngô hợp với tất cả các loại đất. Từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch thường trên dưới 70 ngày. Khi còn đương thì, lá mỡ màng, mượt mà, xanh mềm xanh mại. Mỗi trận gió đùa, tiếng lá dịu dàng, xôn xao hiền lành chứ không xao xác, sắc gọn như nghe trong vườn mía lá reo.

Mùa xuân hay mùa thu, đi bộ trên đê sông Hồng, đặc biệt là đi tàu hay thuyền trên sông, ngắm những vạt ngô con gái hây hẩy lá, không chỉ mát con mắt mà dạ kẻ đa tình, xốn xang chỉ muốn... làm thơ...

Rồi lại ước có... ai đó kế bên, nắm tay mình như thuở còn... đeo cặp cói, cùng lao từ triền đê xuống vạt ngô, chui rõ sâu vào vườn ngô ven sông. Lá cũng đa tình mà... quơ cánh tay xanh, vuốt ve, va chạm. Phả hơi mát rượi vào da, vào tóc...

Ta nghe tiếng của sông, khi khúc khích, lúc rì rào với đôi bờ, với vạt ngô non và cả với... riêng ta, để ta nghe thẳm sâu nơi lòng mình khúc trào dâng, trong trẻo, khát khao...

Và kia! Đâu đó bên nách lá, là một đôi bầu bắp, xanh nõn nà, nhu nhú, trinh nguyên, với một dúm râu vàng ươm như những búp tơ của con tằm khổng lồ nào đó chui vào làm tổ.

Thoang thoảng đâu đây một mùi thơm như sữa mẹ đang phả vào làn môi của bé khi ẵm ngửa, cho ta cảm xúc hạnh phúc, cảm xúc của niềm vui no đủ, ngọt ngào mà bình dị thân thương. Rồi bất giác, ta đưa tay vuốt nhè nhẹ búp tơ non nõn và mềm mướt mát lạnh kia, ta lại có một liên hệ ngay tới lời thơ như đồng dao của cô bảo mẫu, liên hệ đến nhúm tóc mềm như tơ và vàng hoe của bé, liên hệ đến nhịp đung đưa của võng mẹ dập dìu, đưa em vào giấc ngủ khi em quấy nũng, giống như thân ngô mẹ khẽ khàng cùng gió mát lành ru con chờ trông sự mọng mẩy, no tròn, cho mùa này và cho muôn mùa sau... Ngày mai kia, khi đàn con mập mạp tròn trịa bao nhiêu thì cây mẹ lại xác xơ tàn tạ bấy nhiêu.Vài cọng lá vàng khô cứng và tiếng ru xạc xào khản đục mỗi chiều sương buông - Ấy là khi các bà mẹ cực kỳ hạnh phúc vì đã làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng muôn đời của tạo hoá...!

Tuy cùng mẹ sinh ra nhưng lũ con nhà ngô đôi đứa lại... không chịu giống ai. Thay vì sự tròn xinh đều như hạt bắp thì lại cứ non mãi, thưa thớt một đôi hạt như thể bị... sún răng. Hay đôi bắp lố nhố hạt to xen hạt nhỏ, trắng chẳng ra trắng, vàng chẳng ra vàng khấp khểnh như thể hàm răng xâu xấu trong truyện ngắn của nhà văn tài hoa Nam Cao... Thì ra, ông giời sinh ra muôn loài, cỏ cây, hoa lá và con người đều có sự hài hoà tương đồng và ít nhiều, vẫn có những lỗi “lập trình” tạo nên những số phận thiệt thòi...

Ngẫm nghĩ về những đứa trẻ ngô, ta lại có ngay một liên hệ. Và chắc hẳn, lúc này đây, một khát khao lâu nay, bị gánh nặng áo cơm nhấn chìm giờ lại nổi lên, đó là... Bạn nhỉ! Bạn có giống tôi không? Khi tôi nói rằng tôi đang ước ao, ngay bây giờ đây, vị thần tuổi trẻ hiện ra và cho ta chiếc vé trở về tuổi thơ. Về với lũ trẻ mục đồng bạn ta, mỗi chiều đông giá. Chiều chăn trâu, cắt cỏ, vừa đói vừa thèm mà rủ nhau bẻ trộm ngô nhà bà Lâm, những kẻ đạo chích trốn ra tít cánh đồng, vơ rạ nướng ăn. Gió đồng Gòi thì to, lửa thì bốc, hạt ngô thơm mà nào đã kịp chín đâu. Cả lũ năm đứa chia nhau hai bắp, miệng và mặt mũi, đầu tóc đầy tràn tro. Cười nhăn nhở như một... lũ hề... Chán chê, bẻ cờ ngô chơi trận giả. Xót ruột, buồn mồm thì bẻ thân ngô làm... mía để nhai. Bà Lâm quát om sòm, doạ mách bố mẹ. Anh Cu Dũng đứng ra nhận tội, bị bố đánh đòn mà tịnh vô không khóc... Sau mấy vụ mất trộm, cuối cùng bà Lâm cũng thu hoạch ngô. Đó là... ngày hội của bọn trẻ chúng tôi. Đứa nào cũng tranh thủ... cảm tình để bà cho tham gia. Cho đến bây giờ, tôi chưa thấy ai trồng ngô giỏi như bà Lâm. Theo bà, ông giời sinh ra cây ngô mang... hai giới tính, hoa ngô phất cờ bên trên là chồng và bắp ngô nơi nách lá là vợ. Mùa yêu đương, sinh sản, hoa nở bung ngàn ngạt, gió trời đóng vai ông tơ bà nguyệt đem phấn hoa màu vàng tinh khiết mà rắc vào nhúm lông tơ vàng ươm mềm và âm ẩm như rêu. Để đàn đàn, lũ lũ con nhà ngô là những hạt tròn xinh thơm tho, bùi ngọt hoài thai dần trong bụng bắp, tiếp tục trưởng thành và kế tục sứ mệnh của nhà ngô! Do am tường như thế, nên mỗi vạt ngô, bà trồng một loại thuần chủng riêng, nhưng mà không hề bị lai giống. Bởi vì bà trồng xen kẽ và khéo léo bố trí thời điểm hoa phất cờ vào thời khắc... lệch nhau. Thành ra vườn không rộng mà có nếp có tẻ. Những bắp ngô nếp, mặc áo màu xanh cốm, hạt đều tăm tắp và trắng bóng nõn nà, xinh như hàm răng ngọc, răng ngà của người đẹp, lấp lánh sau nét cười duyên. Loại ngô này, dẻo và thơm phưng phức, để luộc, nướng ăn chơi, làm quà biếu hay phơi để dành làm xôi lúa... Loại ngô tẻ, thân to, thô, phàm ăn chứ không mảnh mai như chị tiểu thư ngô nếp. Loại này cho bắp to, màu vàng mật, hạt hơi thô và kém mùi thơm. Ngô tẻ năng suất và dùng khi giáp hạt đói kém ăn cho no lòng, chắc dạ mà cày cấy, gánh gồng. Chủ yếu là nấu rượu và chăn nuôi... Ngô thu về từng thúng, bà buộc từng túm và phơi lên sào cho chóng khô và tránh chuột bọ. Nhưng kiểu gì cũng khao chúng tôi một bữa ra trò. Nồi ngô luộc thơm mùi cơm nếp, bà còn chẻ thêm vài tấm mía vườn cho ngọt thơm nức nở.

Bà Lâm còn có một kho truyện cổ tích trong bụng. Chuyện rằng ngô là loại cây quý mà một con chim thần đã ban cho cậu bé tên là A Ưng (Ngô) - khi cậu đi tìm thức ăn trong rừng, để cứu mẹ đang đói lả và bệnh tật, nhưng mệt quá thiếp đi. Bao đời, người ta lấy tên người con hiếu thảo để đặt tên cho loài cây cứu và nuôi sống con người.

Tôi dám cam đoan với bạn rằng không có món sơn hào hải vị nào ngon ngọt, thơm bùi , bổ béo và tuyệt vời như khi được nghe bà Lâm kể chuyện, bên nồi ngô luộc đang nghi ngút khói. Để rồi, bao năm nay lũ trẻ ngày ấy, cứ có dịp gặp lại nhau, ngoài chuyện vợ chồng, con cái, công việc... không bao giờ lại không nhắc đến... nồi ngô của bà Lâm...

Người vùng cao, canh tác được rất ít lúa, nguồn lương thực chủ yếu là ngô. Trên sườn dốc cao cheo leo thăm thẳm, trong khe các tảng đá trắng bạc khô cứng là những cây ngô bé nhỏ nhưng dẻo dai và mướt xanh, kiên cường cùng sương trời, gió núi mà góp phần làm cho bữa ăn hàng ngày của bà con vùng cao ấm dạ no lòng. Bát ngô bung nâng bước em thơ tới trường, thoa hồng đôi má nàng sơn cước đang vẳng nghe điệu khèn gọi bạn trên nương... Rượu ngô men lá cất bằng nước suối Ngàn, để cho sau phiên chợ tình cô vợ người Hà Nhì bế anh chồng vắt qua lưng ngựa mà ngất ngưởng về bản. Ngô đã đi vào thơ ca gắn liền với những người mẹ lao động cần cù, tần tảo:

 Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”
(Tố Hữu)
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi/ Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
    (Nguyễn Khoa Điềm).
Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Trúc Thông khi nhớ về mẹ mình lại viết:
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió, người không thấy về”
(Bờ sông vẫn gió)
Trong bài thơ “Sáng tháng Năm” nhà thơ Tố Hữu viết:
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn…

Nhưng cũng phải nói rằng, không phải lúc nào, cây lương thực này cũng... lãng mạn đến thế! Nhớ ngày bao cấp, tôi đi xếp hàng mua gạo từ ba giờ sáng, để con ở nhà, đứa lớn trông đứa bé, đến lượt mình thì kho hết gạo. Chị mậu dịch viên tuyên bố khô khốc:

-Chỉ còn ngô, có ai mua không!

-Đã phải đi vay gạo hai ngày rồi. Hôm nay vay đâu? Đứa con trai lớn háu ăn. Mình cũng phải cho đứa bé bú và đi làm bã người ra! Chờ đến bao giờ!

Đâu đây, tiếng thơ dài ngao ngán, chị đứng bên, mắt đỏ hoe, xót xa kể lể đận đứa con gái bị bệnh đường ruột... Tôi không muốn kể nữa, vì bạn cũng sẽ tưởng tượng ra, lũ cần lao chúng ta ngày ấy xoay xở và chịu đựng ra sao với số ngô răng ngựa và những đữa con gầy guộc bé bỏng cùng gánh nặng toan lo...
Nhưng bạn tôi ơi! Thời đất nước sau chiến tranh, còn nghèo,
Có méo mó hơn không! Bạn hãy nghĩ hộ xem, chúng ta và lũ con ta sẽ thế nào khi không có mớ bo bo, ngô răng ngựa và mỳ (có mọt)? Thế mới thấm, hạt ngô đã cùng ta chia sẻ nghĩa tình khi buồn, khi vui! Mới thấy, bây giơ chẳng mấy ai đói phải ăn độn ngô nữa, nhưng cây ngô thanh cao và bắp ngô thơm ngọt, hạt ngô thơm giòn vẫn là tri kỷ với loài người.

Tôi đọc đâu đó bài viết về giá trị dinh dưỡng của ngô có khi còn vượt xa cả gạo và mỳ. Là nguồn dưỡng chất cao và độc đáo cho người và gia súc...
Lên Hà Giang, mà không thưởng thức vài chén rượu ngô với thắng cố, mua một vài can về xuôi làm quà; lên lễ Đền Hùng Phú Thọ mà không thưởng thức mấy cặp bánh ngô thì không gọi là người sành ăn Xứ Bắc.

Lại nhớ ngày lũ nhóc của tôi còn be bé, con bé út của tôi thường thức dậy, khi tiếng rao Xôi nào của cô hàng xinh xinh người làng Thượng. Thế nào cháu cũng sấp ngửa dậy và cầm vài nghìn bạc lẻ ra, xuýt xoa với món xôi lúa nóng hổi thơm phức hành mỡ mà... mồm ăn, mắt... cũng ăn!

Ôi! Một thời của các con tôi!

Cũng như, những tối đông giá rét, ngồi trong phòng ấm vừa xem ti vi vừa rấm rích túi bắp rang bơ, vừa nhớ ngày mẹ ta thổi hồng bếp củi, mẻ ngô giòn tan thơm phức, cho cha nhâm nhi chén rượu và chị em ta chui vào nhai rúc rích nơi ổ rơm của bà.
Thời nay, ngô đã
lên đời. Họ hàng, anh em nhà ngô đã xuất hiện trong các gói bột ngũ cốc sang trọng dành cho trẻ em và người suy dinh dưỡng được bày trong tủ kính của các cửa hàng sang trọng, nơi siêu thị, xuất khẩu đi nước ngoài lấy đô la, xuất hiện nơi quầy giải khát bổ dưỡng với cốc sữa ngô đặc sánh thơm lừng, trên bàn nhậu đưa cay có món ngô chiên, món xào thập cẩm bắt mắt giòn ngậy không thể thiếu ngô bao tử.

Về Hà Nội, mỗi chiều muộn hay đêm đông qua phố, ta lại được... bổ túc hương vị ngô nướng mà cánh mũi cứ liên tiếp phập phồng khi một chị trung trung tuổi, má hồng rực vì lửa than đang tươi cười gói gói mấy bắp ngô vàng sậm như mật ong trao cho cặp trai thanh, gái lịch dừng xe, mắt long lanh hạnh phúc. Biết đâu, những bắp ngô thơm nức, thơm nở kia sẽ đánh dấu một kỷ niệm đẹp về tình yêu đầu đời trong sáng của các em! Và biết đâu, sẽ là nhân vật trữ tình trong những vần thơ tình hay nhất!

Nhưng một điều có thật, đó là ít nhiều, bạn cũng cùng tôi có sự chia sẻ cảm xúc trong tản mạn về ngô quê kiểng,thô vụng này!

 

                                                                                  23- 12-2019

 

Nguồn tin: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 4 đánh giá

Xếp hạng: 3.5 - 4 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây