Thao thức phía bè trầm

Thứ bảy - 01/06/2024 08:15
Lê Anh Phong: Đọc thơ Nguyễn Đức Bình

   

Nhà thơ Nguyễn Đức Bình
Nhà thơ Nguyễn Đức Bình

Sau hai tập thơ “Heo may” và “Tiếng cỏ đêm”, bước sang tuổi 80, nhà thơ Nguyễn Đức Bình ra mắt thi tập thứ ba: “Khói trầm ngược gió”. Có thể nói, thao thức phía bè trầm là nét cơ bản trong âm hưởng thơ Nguyễn Đức Bình, một cựu binh, một nhà thơ của vùng quê Đất Cổ Hưng Yên.

     Thực ra, lục bát, thể thơ mà anh yêu thích, luôn là thử thách lớn với thi nhân trong sáng tạo và đổi mới. Giọng trầm, vần điệu của 6/8, thế sự và tình yêu, đó là những thành tố cơ bản tạo nên thơ Nguyễn Đức Bình. Dường như anh không chịu ảnh hưởng cảm quan của dòng thơ tình thời chiến. Có lẽ, trước 1975, rất hiếm gặp những câu thơ viết về tình yêu như trong “Tìm em”: “Em còn giặt chiếu bờ ao/ Cây sào đập vụn ánh sao chân cầu”. Tất nhiên đây là thơ hậu chiến, nhưng thói quen trong cách nhìn, trong tụng ca, hoan ca đã khiến không ít nhà thơ thế hệ của anh vẫn chưa thoát khỏi giọng đồng ca, mỹ cảm của một thời.

     “Ngày về” hiện lên khá nhiều trong các thi tập. Nhưng, sự trở về căn cốt nhất trong thơ Nguyễn Đức Bình, là trở về trong tinh thần phản tư của thao thức hiện sinh. Trước sự tha hóa, thật giả lẫn lộn, không còn là tiếng thở dài thường thấy như trong thơ của các nhà nho xưa, không né tránh, nhưng cũng không cao giọng, chữ nghĩa như tra vấn hiện thực: “Vỡ bờ tức nước vì đâu/ Trời sao mưa thế làm đau quê nghèo”. Cứ ngỡ rằng, từ chiến thắng trở về, điều gì cũng thấy đẹp, cũng hân hoan… Giây phút ấy qua nhanh, “Tiếng chuông chùa” hay tiếng lòng xa xót đồng cảm đồng đội: “Từ trong khói lửa bước ra/ Nhìn trăng trăng tỏ/ Nhìn hoa hoa hồng/… Gặp em tải đạn rừng xưa/ Xế chiều quét lá cửa chùa tụng kinh/ Khói nhang cầu phúc chúng sinh/ Adi đà Phật! Phận mình cầu ai…”. Trong cơn gió heo may chuyển mùa, trăng trong đêm thề nguyện đã khác rồi: “Đã nghe lá rụng, trăng thề bớt trong”. Áp sát đời sống thực tại, không còn lộng lẫy trong mơ mộng, chữ nghĩa xa lạ với véo von ngôn tình. Trong thơ Nguyễn Đức Bình, lời thề hiện lên khá nhiều, nhưng được nhìn từ nhiều hướng. “Lời thề” có lúc như “thuốc thử” con người với thời cuộc, nhưng có lúc trở thành biểu tượng lý tưởng của một “thời xa vắng”, nhiều khi trớ trêu số phận con người, đặc biệt người phụ nữ có người yêu ra trận không trở về, thời gian vô tình bạc dần trong ánh hào quang cứ vây kín ẩn ức lời thề: “Người quê giữ trọn tình quê/ Đạn bom đã tạnh tóc thề hoa râm/… Ngọn đèn khêu tỏ trong đêm/ Bóng mình mình tựa bắt đền ai đây…”. Vẫn còn đâu đây những bóng hình, những mảnh vỡ trong thơ. “Bóng mình, mình tựa”, chênh chao, thăm thẳm cô đơn, lời thề ấy của một thời có lẫn vào bóng của tượng đài vô danh. Và có một “Tình xưa” dưới góc nhìn của ngày hôm nay: “Cái thời chín nhớ mười mong/ Đã thành bong bóng xà phòng mỏng manh/ Nặng lời thề thốt em – anh/ Thế rồi xa cách lạnh tanh câu thề/… Nay là mai của hôm qua/ Nhặt gom mảnh vỡ làm quà tình xưa”. Còn đây, “Trước cửa chùa Tam Thanh”, bài thơ của con đường và đức tin, hay là bài học từ ký ức. Không ồn ào, thơ anh lặng lẽ mà thâm trầm, ngược sáng, bởi cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh cá nhân: “Vì chưng vụng dại đường tu/ Nửa đời đi mãi mây mù chưa tan/ Mấy lần tắm suối giải oan/ Tin là như thế. Nhưng toàn viển vông/… Em về lễ hội Tam Thanh/ Phật trên tam bảo chưa lành vết thương”. Câu thơ của tự vấn hay đối thoại với đời sống, với thời cuộc. Thực ra trong quá trình chuyển đổi hệ hình thơ Việt Nam sau chiến tranh, câu chuyện này không mới. Nhưng biểu đạt như thế nào lại là dấu ấn của cá nhân trong sáng tạo.

     Phần lớn không gian và thời gian trong thơ Nguyễn Đức Bình thuộc trường cảm thức của “thương nhớ đồng quê”, của sự trở về. Trở về trong ký ức, trong hoài niệm, ngay “cái nắng vẫn nắng ngày xưa”, “vẫn bờ ruộng cũ mà không thấy người”. Trở về với bản sắc, trở về từ nỗi nhớ: “Tha hương thương kẻ chiều nay nhớ nhà”, “Nhìn tre ru gió nhớ đường về quê”, “Nhớ con sóng cũ vỗ nhàu lòng sông”… Có một miền thương nhớ, hoài niệm trong lục bát Nguyễn Đức Bình. Tuy xa quê rất lâu, sống trong không gian đô thị, nhưng ngôn từ lục bát trong thơ anh vẫn đậm đà phong vị thôn hương, ca dao, thành ngữ, tục ngữ. Biết bao hình ảnh thân quen của vùng châu thổ sông Hồng hiện lên trong thơ: Cánh đồng, con đê, bờ tre, giàn trầu, đò ngang, mái tranh…

     Không chỉ trong tình yêu, “Ngày về” có mặt phía góc nhìn thế sự. Đó là sự trở về trong tâm tưởng, trong tự vấn và cảm luận. “Ngày về” cũng là tên một bài khá điển hình cho tạng lục bát, cho nội dung cơ bản thường trực trong thơ Nguyễn Đức Bình: “Bảng vàng bia đá cũng mòn/ Huân chương rồi bạc mãi còn nỗi đau/ Cỏ xanh xanh mướt một màu/ Đau oằn chín khúc vò nhàu lòng son/ Trường Sơn nắng lửa mưa bom/ Vết thương là của hồi môn chiến trường/ Ngày về về lại cố hương/ Nửa con mắt trái dò đường đổi thay/ Gập ghềnh chạm vạt cỏ may/ Vấn vương níu chặt găm đầy bước chân/ Gió làng lạc giọng người thân/ Nghĩa trang xóm đã bao lần khói bay/ Ai người cắt cỏ nơi đây/ Nghiêng vành nón trắng khóc ngày sang sông/ Nỡ ôm nước mắt theo chồng/ Gửi dòng lệ đắng người không còn về/ Sông nghèo vỗ vẹt chân đê/ Tấm bia mộ mẹ! Đây quê hương mình!”. Trở về từ Trường Sơn, từ con đường huyền thoại của máu, mang trong mình chất độc da cam, người thương binh – nhà thơ ấy, lại bước vào con đường của thời bình mà xao xác, ngổn ngang nỗi niềm. Bài thơ thảng thốt trước ấm lạnh cõi người và cõi mình. “Huân chương rồi bạc, mãi còn nỗi đau”. Sự thật đời sống và số phận con người là hai phẩm chất cốt yếu của văn chương, của thi ca muôn thuở. Không giáo điều, sơ lược, nhưng cũng không cực đoan thê lương tăm tối, thơ Nguyễn Đức Bình nhiều nghĩ ngợi và thấm thía. Nhạy cảm với thời cuộc, đọc thơ anh, nhiều khi linh cảm có cái gì đó không yên lòng: “Ai tin giăng sáng cuối chiều/ Máu đâu nước lã. Nói điều viển vông”. Nhạy cảm với nhân thế, chỉ là “Phơi áo” mà biết bao buồn vui trong nắng gió: “Phơi là phơi lại cuộc đời/ Để hong hơi ấm từ thời xa xưa”. Hiện thực trong thơ là hiện thực của suy tư, phản tư. Thay cho cảm hứng lãng mạn và cái nhìn sử thi, thay cho “bè cao”, thay cho đại tự sự, thơ anh chọn phía “giọng trầm”, hướng đến góc khuất của thân phận, hướng đến cảm hứng đời thường. Trong mảng đề tài này, tiếp thu những giá trị của văn học thời kỳ đổi mới, thơ Nguyễn Đức Bình tiếp cận cuộc sống với điểm nhìn hôm nay, điểm nhìn của chiều sâu nhân bản.

     Mạch trữ tình thường nghiêng về phía cần lao, phía mồ hôi nước mắt, nghiêng về phía người phụ nữ. Rất nhiều những hình ảnh tương quan, tương phản hiện lên cùng âu lo, mơ hồ dự cảm: Đi – về, sáng – tối, cũ – mới, quá khứ - hiện tại, giàu – nghèo, buồn – vui, mất – còn…: “Ngày xưa đồng lúa chín vàng/ Bây giờ cỏ mọc ngút ngàn bờ lau”, “Ra đi bùn níu bước chân/ Ngày về với đất hóa thân vào bùn”, “Trường Sơn thuở ấy xa rồi/ Ra đi mắt ướt sao trời cùng đi/ Bây giờ cửa Phật từ bi/ Còn ai ngày ấy ra đi không về”… Hình ảnh người mẹ trong thơ Nguyễn Đức Bình rưng rưng và ám ảnh, nhắc nhớ một thời không quên: “Và tàn ba cuộc chiến tranh/ Lưng mẹ dấu hỏi đã thành dấu than”, “Nắm xương bọc tấm vải cờ/ Mẹ ngồi như tượng bên bờ nhân gian”.

     Trong thơ anh đôi lúc vẫn còn thi ảnh cũ từ ước lệ. Có lẽ người đọc hôm nay chờ đợi nhiều hơn những khoảng trống, những vùng mờ ảo của biểu đạt trong ngôn ngữ thơ.

     Thơ đọc trong đêm, có một giọng trầm thao thức phía trăng lên…

  Khương Trung, Tháng 6/ 2024
  L.A.P


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây