NGƯỜI ĐI THÀNH NỖI NHỚ - Thơ Nguyễn Chính và lời bình

Thứ tư - 05/05/2021 20:29
* Đặng Huy Giang:

Tôi gặp nhà thơ Nguyễn Chính rất muộn, sau khi ông đã sở hữu 6 tập thơ. Những tập thơ này, ông cho xuất bản đều đặn vào các năm: 2008, 2009, 2012, 2016, 2017 và 2019, mà tập thơ nào cũng có tên gọi rất thơ, rất gợi, đầy hàm ý và có phần hàm chứa: Một khúc gió đùa, Sóng vỗ tình đời, Mây trắng còn bay, Lá rụng phân trần, Dìu dịu phố và Tiếng vọng thời gian.

     Nhà thơ Nguyễn Chính

   Cách nay không lâu, Nguyễn Chính cho tôi đọc tập thơ Dở dang mắt biếc. Tôi không khỏi ngạc nhiên về khả năng viết, khả năng sáng tạo liên tục và bền bỉ nơi ông. Nhưng tôi ngạc nhiên hơn là thơ ông luôn tươi mới và ngày một khác lạ, khác mình. Tôi coi đây là một sự vượt mình một cách tự thân nơi ông. Mà sự vượt mình, dù ở lĩnh vực nào, chưa nói là ở mức tự thân, cũng là đáng kể và rất đáng được ghi nhận.

     Tôi đọc rất kỹ và tìm ra tên của tập thơ rút ra từ bốn từ trong câu “Dở dang mắt biếc, mênh mang hồn người” trong một bài thơ có tên giản dị đến nỗi khó giản dị hơn: Lính già ở chung cư. Có vẻ như ở chung cư, trong cái tình cảnh ăn sáng “năm ngàn một bát xôi ngô”, người lính già chợt nhớ “Trường Sơn khoai sắn em vùi trong mây” và “chưa nhạt lòng” khi nhớ về thời “dở dang mắt biếc”. Hai câu lục bát thật hay, như một tiếng thở dài, như một lời than, như một câu hỏi và cũng là một sự nuối tiếc vô vọng, chắc chắn còn ám ảnh cả người viết lẫn người đọc. Nó vừa là tâm thế lại vừa là tâm trạng: Quờ tay chạm đám mây trời/ Sao không chạm được tới người ngày xưa?

     Qua Lính già ở chung cư càng thấy tên gọi một bài thơ cũng không quá quan trọng. Vấn đề còn lại là nhà thơ viết gì, nghĩ gì, gửi gắm gì và để lại thông điệp gì? Tất cả còn lại là nội dung, không phải hình thức.

     Về điều này, B. Brecht là một nhà thơ bậc thầy và thuộc dòng cao thủ. Sinh thời, ông có một tứ thơ có một cái tên hết sức bình thường: Chờ thay lốp xe. Nếu diễn xuôi chỉ có: “Tôi hỏng lốp xe, phải ghé vào bên đường để thay lốp mới. Và chỉ khi thay xong lốp mới, xe của tôi mới tiếp tục đi được”. Chuyện chỉ có thế! Vậy mà B. Brecht là cho chuyện rất “ngày thường ở huyện” này, trở nên khác thường nhờ nhưng cơn cớ khác, lý do khác mà chỉ một mình ông mới tìm ra. Và cái ông tìm ra cũng là bản chất, đòi hỏi như là cái tất yêu của đời sống, của cuộc sống, của mỗi con người. Cho dù “Nơi tôi đã qua chẳng có gì lạ, nơi tôi sắp đến, chẳng có gì mới”... nhưng “Tại sao tôi vẫn hồi hộp thay lốp mới?”. Chính sự “hồi hộp thay lốp mới” đã góp phần khẳng định: “Cuộc đời là cuộc đời đi”, “còn sống là còn di chuyển, là còn vận động”. Nói một cách khác: Quá trình sống là một quá trình không được phép ngưng trệ bất kể khi nào. Tất nhiên, B. Brecht không chỉ có Chờ thay lốp xe mà còn nhiều tứ thơ khác: Về sợi dây thừng bị đứt, Hình con sư tử trên nắp hộp chè Trung Hoa...

     Nguyễn Chính là người có sở trường làm thơ lục bát. Dường như thể thơ truyền thống này không còn là thách đố với ông. Ông đã vượt lên “đường ray” ngặt nghèo của thể loại để triển khai một lối viết theo kiểu của ông. Ông có nhiều cặp trên sáu dưới tám giàu cảm xúc, nhuần nhuyễn và tài hoa. Có thể dẫn chứng: “Trăng lên trăng lặn… ngọn cau/ Hoa thơm thơm cả một câu hẹn hò” (Thi nhân), “Bóng người đổ dốc chênh vênh/ Dấu chân vực thẳm mây bềnh bồng trôi” (Em và anh), “Sổ gai, thắt đốt mấy tầng/ Chắt chiu sự sống can trường mà xanh” (Thức niệm), “Mặt sông nguyên bóng mặt trời/ Nước xuôi, mây ngược và tôi trên bờ” (Cái bóng), “Sóng vừa đủ để dừng chân/ Em vừa đủ đẹp một lần bên tôi”… Đôi lúc ông rất tình tứ và đẩy cái chất tình tứ trong những từ ngữ mạnh. Ta thấy rõ nét riêng này trong Qua đồi vú với: “Vú đồi xanh mơn man/ Phơi non cùng mây gió” và trong Váy Dao xuống núi: “Váy Dao tốc ngược lên trời/ Biển e thẹn cạn, núi cười ngả nghiêng/ Miền xuôi lắm chuyện thật phiền/ Có hay miền ngược tắm tiên… lộ hàng”. Theo tôi, dứt khoát Nguyễn Chính là một người đa tình một cách yếu lòng. Không đa tình, không yếu lòng, làm sao ông viết và đặt ra câu hỏi: “Dan díu mãi cả âm dương xa cách/ Tình người dài mấy trăm năm?” (Dan díu khôn nguôi). Không đa tình, không yếu lòng, làm sao ông viết: “Người đi thành nỗi nhớ/ Con đò nằm bơ vơ” (Có mùa xuân lá vàng). Ông cũng rất nặng lòng và luôn muốn trải lòng với một chữ tình: Không hiểu vì sao lúc nào tôi cũng nhớ/ Chốn kinh kỳ dang dở mấy đời trai/ Nón trắng người đi chòng chành cơn gió thoảng/ Tiếng dạ thương ngọt mãi đến nao lòng… (Xứ Huế đồng xanh).

     Thơ ông nhiều băn khoăn, ngẫm ngợi và cũng nhiều khoan dung, độ lượng. Đối với thi nhân, phẩm chất này thật đáng quý nếu không muốn nói thêm là có phần tiên quyết. Và phẩm chất này, thái độ sống này luôn đeo đẳng ông suốt cuộc đời. Rõ nhất là ở 2 bài Cái hầm trong nhà tôiTrên mây. Trong Trên mây, ông có hai câu thơ minh chứng cho điều ấy: “Người với người có gì mà xa lạ vậy/ Mà mù mờ chốn phiêu du?” Câu hỏi ấy là câu hỏi với nhiều ưu tư, trăn trở, mang giá trị nhắc nhở và mãi còn thao thức trong lòng nhà thơ.

   Nhờ Dở dang mắt biếc, tôi càng tin đến với Nguyễn Chính, cũng như đến với thơ của Nguyễn Chính, không bao giờ là muộn cả.
                                                                                                                                             ĐHG


 

 Nguyễn Chính
( Thơ trích trong tập )
 
SỎI ĐÁ Ở TRÊN TRỜI
 
Bạn có tin
sỏi dá cũng có ngày nóng chảy
như ý nghĩ ta tan rã hàng ngày
hãy tin đi những câu hát thật hay
chắc gì đã là bài thơ tuyệt đẹp
trăng tròn đấy
và cũng là trăng khuyết
chắc không phải: trăng nhiều, trăng ít
mà ánh trăng ngấm vào được bao nhiêu
trăng khuyết thường đầy
trăng tròn vơi với
ánh mắt buồn mê đắm
ánh trăng khuya
trăng ơi trăng nối những bờ chia
đêm càng lạnh trăng xanh cành tỏ
trăng xứ người than thở với trăng quê
trăng là thế cũng não nề ghê gớm
bởi người buồn mê đắm được sao đang
và lắm lúc trăng vàng là có thật
soi chân Kiều vườn khuya bước xăm xăm
trăng trăng trăng
tôi nghe tiếng nhân tình
Hàn Mặc Tử vẫn bấm vào máu đỏ
trời Quy Nhơn dang dở mấy ngàn năm
sỏi lăn lăn
ở trên trời là có thật
khi biết mòn ở dưới những bàn chân !
 
                                         4-2021
 
CẢ LÀNG CÙNG CHƠI
 
Trông vời cây gạo đầu làng
Viền quanh đồng lúa xanh tràn cung mây
Chuông chùa văng vẳng đâu đây
Còn không sửng sốt hây hây má hồng
 
Ngẩn ngơ nón trắng giữa đồng
Chắc là người ấy gánh gồng phương xa
Ríu ran đàn sẻ ngang qua
Tha rơm làm tổ hóa ca rộn ràng
 
Quê hương là chốn mơ màng
Tháng ba hoa gạo cả làng cùng chơi
Hoa còn nở đỏ đất trời
Người quê còn thắm nụ cười cỏ hoa
 
Hỡi người chân bước đường xa
Có còn nhớ đến người ta với làng ?
 
                                      4-2021
 
RU HẠT PHÙ SA
 
Tôi trộn mắt tôi vào đất
tôi nhìn thấy hạt phù sa
lăn qua đôi bờ thương nhớ
đồng xanh bát ngát hiền hòa
 
Con đê bao đời che chắn
lưng trần giữ đất của cha
gập người đồng sâu mẹ cấy
chân còn váng đỏ phù sa
 
Tôi nghe ngọt lành cây trái
mồ hôi thấm đượm thịt da
bậu cửa mẹ ngồi mẹ kể
công lênh thành những mái nhà
 
Cánh cò dập dờn đồng lúa
giữ hồn cho người đi xa
bóng mẹ in trên thềm vắng
ai người ru hạt phù sa
 
Hành quân rộng dài đất nước
sông nào chả nặng lòng ta
sông nào chả nặng phù sa...
 
 
PHẬP PHÙ
 
Rét về cóng cả giọt mưa xuân
Nghe sấm động "chó già lè lưỡi"
Tháng ba nóng lạnh phập phù
Trời đất thế,con người có thế
Man mác buồn đâu chỉ có mùa thu !
 
                                   3-2021
 
TIẾNG HO KHAN
 
đêm lạnh tiếng ho khan
tưởng như phổi mình cũng rạn
người đẹp bên nhà hàng xóm
năm canh sắp tàn
hồng nhan có theo nhịp thở
lạch cạch xóm nghèo dậy rồi..
 
 
DAY DỨT
 
Bệnh viện "Bình Dân" như ở chỗ này
Hôm nay không còn nữa
Mông lung nhớ đến Nhà Thương
Sao tôi chưa muốn quên có cái gọi là ngày xưa ấy ?
 
                                                    3-2021

 

Nguồn tin: , bai: HNV.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây