Thi hứng Tây hồ qua thơ của ba nữ sĩ Thăng Long.

Thứ tư - 26/10/2022 14:34
Nhà nghiên cứu VHDG Văn Hậu
Ảnh minh họa: ST
Ảnh minh họa: ST

NIỀM VUI DẠO ĐÊM
                   Đoàn Thị Điểm
Sao nhỉ đêm Thu đốt đuốc chơi
Sáng như ngày hửng quế thơm trời
Cầu Ngân bến Hán treo cao nhịp
Phách ngọc đầu thu tỏa ánh ngời
Đồng nội trước nay nhìn chẳng khác
Phồn hoa Vua Chúa đất này thôi
Hứng đưa chẳng quan sông hồ lạ
Một mái chèo thênh chuốc rượu mời
                         (Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn)
 

THĂNG LONG HOÀI CỔ
                                 
Bà Huyện Thanh Quan
Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

 

                              
                                    CHƠI TÂY HỒ NHỚ BẠN
                                                              Hồ Xuân Hương
 

Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa
Người Đồng Châu trước biết bao giờ
Nhật Tân đê lở nhưng còn lối
Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thơ
Nọ vực Trâu Vàng trăng lạt bóng
Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy
So dạ hoài nhân chửa dễ vừa.

               (Tốn Phong Thị dịch)
 

đh
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm                                                                                                           Tượng Hồ Xuân Hương

       Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748) biệt danh Hồng Hà. Bà không đỗ đạt, xưa con gái đâu có được vào trường ốc, nhưng văn phẩm nổi danh là bản dịch “Chinh Phụ Ngâm” do Đặng Trần Côn sáng tác và tác phẩm “ Truyền kỳ tân phả”. Văn phẩm ra đời, chợ Bưởi, chợ Cót không còn giấy bán vì học trò thi nhau chuyền tay chép tác phẩm.

Có giai thoại bà ra câu đối khiến Trạng Quỳnh, quan Huấn Đạo Phủ Phụng Thiên (Thăng Long) cũng chịu. Bà Điểm là kế thất nuôi 3 đứa trẻ mồ côi, đỡ đần ông Kiều bận đi sứ Trung Quốc. Khi về, hai vợ chồng sum vầy có những phút xướng họa thơ. Đây là cảnh chơi thuyền ngắm trăng trên sông Thiên Phù, khúc sông xưa nối đoạn từ làng Phú Xá bên sông Hồng tới chợ Bưởi bên sông Tô.

Sau một thời, ông Kiểu tổ chức 10 chiếc thuyền đưa cả gia đình vào Nghệ An nhậm chức. Nhà ở khoảng Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, thành phố Vinh hiện nay. Vì không chịu được sóng gió, dù được chạy chữa, bà mất vào 11/9 âm lịch mậu Thìn (1748)

Còn ông Nguyễn Kiều mất ngày 16/6 Nhâm Thân (1762) Mộ ông bà nay ở bên phố Phú Xá, phường Phú Thượng, được xếp hạng dic tích tháng 2-2012.

       Bà Huyện Thanh Quan tên thật Nguyễn Thị Hinh (1805-1848) người làng Nghi Tàm, quận Tây Hồ, lấy chồng là quan huyện Lưu Nguyên Ôn (Lưu Nghi) quê ở Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì. Ông được cử làm Tri huyện Thanh Quan, nay là xã Thái Thượng, Thái Thụy, Thái Bình. Bà Hinh từng là Cung trung Giáo tập được Vua mời vào Huế dạy cung nữ. bà để lại 8 bài thơ, giọng thanh lịch, trang nhã, dễ nhớ dễ thuộc. Di tích mộ chồng không còn nhưng còn cây hương số nhà 134, phố Từ Hoa, quận Tây Hồ, Hà Nội.

      Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1770-1840) quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Thân sinh là cụ Hồ Sĩ Danh (1706-1783) Cụ bà họ Hà, quê ở Bắc Ninh. Mồ côi cha sớm, nữ sĩ được mẹ đưa ra cư trú ở phường Khán Xuân bên Hồ Tây. Bà lập Cổ Nguyệt Đình, một ngôi nhà lá, ngoảnh mặt ra Hồ Tây (khoảng khu vực trường Chu Văn An) để xem sách, làm thơ và dạy học trò chữ. Cổ và Nguyệt trong chữ Hán là chữ Hồ. Cổ Nguyệt Đình là nhà của cô gái họ Hồ. Sát Cổ Nguyệt Đình là đền Trấn Võ. Nhiều khách văn chương còn gửi thơ tới nữ sĩ:
-Xa xôi ta nhắn chị Hằng
Hồ Tây nước bạc xin đừng bóng soi.
Rồi có nhiều kẻ khoe chữ còn viết thơ lên tường, lên chuông đền Trấn Võ. Thật lạ, chát “bút tre” của thế kỷ XX đã có từ thws kỷ XVIII với giọng thơ vui
                                  
Dắt díu nhau lên trước cửa đền
                                 Cũng đòi học nói, nói không nên…

Cổ Nguyệt Đình, quán văn chương đã có nhiều danh sĩ Bắc Hà tới xướng họa: Nguyễn Du, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tình. Nhiều bài thơ chữ Hán của nữ sĩ được tập hợp trong tác phẩm “Lưu Hương Ký” nhà phê bình Tốn Phong Thị viết lời tựa năm 1814. Địa danh Thăng Long được tả trong từng câu khi nữ sĩ tả cảnh trong bài “Chơi Tây Hồ nhớ bạn”

Nhớ Đông Châu là nhớ thi sĩ Nguyễn Du. Biết bao tên đất thân thương đi vào thơ, Tây Hồ, Nhật Tân, Trấn Bắc (chùa Trấn Quốc) vực Trâu Vàng (gần Phủ Tây Hồ) non Phượng Đất (mạn phố Thụy Khuê)

Thơ bà phập phồng hơi thở của thi ca dân gian, có sự cách tân đòi quyền sống của nữ giới trước sự khắt khe của lễ giáo phong kiến. Thi sĩ Xuân Diệu gọ bà là BÀ CHÚA THƠ NÔM, sách thơ được in, bán chạy ở Hoa Kỳ, UNESCO xếp hạng là di sản phi vật thể cùng danh nhân Nguyễn Đình Chiểu. Mộ bà không còn ở ven Hồ Tây nay còn mộ gió ở làng Quỳnh Đôi, Nghệ An.

                                  Văn Hậu
                Hội VNDG Hà Nội

 

 

THAM KHẢO

  1. Bà Điểm họ Đoàn- thư viện Hà Nội                     1988
  2. Thăng Long Đông Đô Hà Nội

Đinh Gia Khánh (cb) Sở VHTT HN 1991

  1. Di tích LSVH quận Tây Hồ     NXB HN              2010
  2. Nữ sĩ thời gió bụi           NXBPN                         2018
  3. Đình Phú Xá                  NXB TN                        2020

Nguồn tin: HNV

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây